TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

KHOA KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG VÀ TRÁI ĐẤT

 

 

ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SẢN XUẤT HƯỚNG TỚI

PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI LÀNG NGHỀ CHÈ TÂN CƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

 

 

 

 

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

 

Chuyên ngành: Khoa học Môi trường

 

 

 

Sinh viên thực hiện: NGUYỄN THỊ NHƯ QUỲNH

Lớp: KHMT K9                      Khóa: 2011 – 2015

Người hướng dẫn khoa học: TS. Phạm Thị Tố Oanh

THÁI NGUYÊN, 2015

======================================================

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU.. 1

  1. Lý do chọn đề tài 1
  2. Mục tiêu nghiên cứu. 2
  3. Nội dung nghiên cứu. 3

CHƯƠNG 1. CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN.. 4

1.1. Tổng quan về chất thải rắn, quản lý chất thải rắn tại Thái Nguyên và làng nghề chè Thái Nguyên. 4

1.1.1. Một số vấn đề về chất thải rắn. 4

1.1.2. Công tác quản lý chất thải rắn. 5

1.1.3. Công tác quản lý chất thải rắn tại Thái Nguyên. 8

1.1.4. Công tác quản lý chất thải rắn sản xuất tại làng nghề chè Thái Nguyên. 9

1.2. Tổng quan về làng nghề. 9

1.2.1. Quan niệm và vấn đề xung quanh làng nghề. 9

1.2.2. Làng nghề chè ở Thái Nguyên. 10

1.3. Tổng quan về phát triển bền vững. 11

CHƯƠNG 2. PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.. 14

2.1. Phạm vi nghiên cứu. 14

2.2. Đối tượng nghiên cứu. 14

2.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn. 15

2.2.1. Ý nghĩa khoa học. 15

2.2.2. Ý nghĩa thực tiễn. 15

2.3. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu. 15

2.3.1. Quan điểm nghiên cứu. 15

2.3.2.  Phương pháp nghiên cứu. 16

CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN.. 17

3.1. Cơ sở lựa chọn khu vực nghiên cứu. 17

3.2. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực làng nghề chè Tân Cương – tỉnh Thái Nguyên  18

3.2.1.  Điều kiện tự nhiên. 18

3.2.2. Điều kiện kinh tế – xã hội 19

3.3. Thực trạng chất thải rắn sản xuất tại khu vực làng nghề chè Tân Cương nói chung và làng nghề chè Hồng Thái 2, xã Tân Cương, tỉnh Thái Nguyên nói riêng. 23

3.3.1. Nguồn gốc phát sinh CTR sản xuất chè. 23

3.3.2. Khối lượng chất thải rắn sản xuất chè phát sinh. 23

3.3.3. Ảnh hưởng của chất thải rắn sản xuất đến môi trường và sức khỏe con người 27

3.4.  Đánh giá công tác quản lý chất thải rắn do hoạt động sản xuất 28

3.4.1. Quá trình phân loại, thu gom và vận chuyển. 28

3.4.2. Quá trình xử lý chất thải rắn sản xuất 29

3.4.3. Đánh giá chung trong công tác quản lý chất thải rắn sản xuất 30

3.5. Đề xuất một số giải pháp quản lý chất thải rắn sản xuất hướng tới phát triển bền vững. 32

3.5.1. Giải pháp phát triển bền vững. 32

3.5.2. Giáo dục môi trường và tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân. 35

3.5.3. Giải pháp quản lý môi trường. 35

3.5.4. Giải pháp về công nghệ. 38

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 42

TÀI LIỆU THAM KHẢO.. 44

 

 

MỞ ĐẦU

  1. Lý do chọn đề tài

Trong những năm gần đây, chính sách phát triển kinh tế – xã hội và định hướng công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn của Đảng và nhà nước ta đã tạo động lực cho sự phát triển mạnh mẽ của các làng nghề. Một số làng nghề truyền thống được khôi phục và nhiều làng nghề mới ra đời, góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn Việt Nam. Hiện nay, cả nước có 4.575 làng nghề, thu hút 12 triệu lao động chuyên nghiệp tại các địa phương, hàng năm, xuất khẩu đã đạt hơn 1 tỷ USD/năm, đem lại hiệu quả kinh tế, nâng cao đời sống, tăng thu nhập cho người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo.[1]

Do tính chất linh hoạt trong sản xuất, quy mô sản xuất nhỏ, sản phẩm đa dạng luôn thay đổi theo nhu cầu thị trường, các làng nghề đang là một bộ phận quan trọng cấu thành nền kinh tế và luôn được chú trọng trong các định hướng phát triển kinh tế – xã hội của nước ta.

Hiện nay, Đảng và nhà nước đã quan tâm đầu tư, hỗ trợ và ban hành các thông tư, nghị định, luật bảo vệ môi trường,… có bổ sung về vấn đề bảo vệ môi trường làng nghề ở Việt Nam. Nhiều điều khoản, chính sách và chế tài xử phạt trong luật đã được áp dụng. Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu, điều tra khảo sát, đánh giá thực trạng ô nhiễm môi trường làng nghề cũng đã được tiến hành và thu được những kết quả nhất định nhưng vẫn còn rời rạc, chưa đủ mạnh để tạo một bước đột phá trong công tác quản lý và xử lý ô nhiễm môi trường, chưa tạo động lực để thúc đẩy các làng nghề phát triển kinh tế và tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường.

Là một trong những làng nghề truyền thống nổi tiếng khắp cả nước, Tân Cương (thuộc thành phố Thái Nguyên) là địa phương có làng nghề truyền thống chè nổi tiếng. Làng nghề chè Tân Cương nằm ở khu vực miền núi phía Bắc quanh năm khí hậu mát mẻ, trong lành, thổ nhưỡng phù hợp là điều kiện tốt nhất để tạo ra sản phẩm chè nổi tiếng khắp cả nước về cả thương hiệu lẫn chất lượng và được người dùng bình chọn là “đệ nhất danh trà”. Năm 2013, Thái Nguyên đã có 23 làng nghề được công nhận làng nghề, trong đó chủ yếu là làng nghề chè.

Bên cạnh những mặt thuận lợi, làng nghề chè Tân Cương đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức. Hoạt động sản xuất chè càng phát triển thì cũng làm cho môi trường làng nghề ngày càng bị ô nhiễm. Do làng nghề được hình thành và phát triển một cách tự phát với công nghệ lạc hậu và thiết bị đơn giản, chi phí đầu tư cho xây dựng các hệ thống bảo vệ môi trường ít được quan tâm, ý thức bảo vệ môi trường sinh thái và bảo vệ sức khỏe cho chính gia đình của người lao động còn rất hạn chế. Một trong những yếu tố gây ô nhiễm môi trường trên diện rộng đó là chất thải rắn. Thực tế, lượng chất thải rắn được tạo ra trong quá trình sản xuất chè ngày càng gia tăng cùng với phát triển kinh tế, tăng dân số, tăng mức sống của người dân, đi kèm ý thức bảo vệ môi trường chưa trở thành thói quen, nếp sống của nhiều người. Đặc biệt, quá trình sản xuất chè thải ra lượng lớn bao bì thuốc BVTV là chất thải rắn nguy hại. Như vậy, mỗi năm làng nghề phát sinh ra chất thải rắn sản xuất gây tác động đến môi trường sống và sức khỏe cộng đồng xung quanh khu vực làng nghề. Tuy nhiên, công tác quản lý chất thải rắn sản xuất chưa được chính quyền xã Tân Cương quan tâm đúng mức và triệt để. Hầu hết, biện pháp thu gom và xử lý chất thải rắn sản xuất vẫn còn thô sơ, lạc hậu chưa đáp ứng được yêu cầu và đảm bảo vệ sinh môi trường. Vấn đề này đang được chính quyền xã đặt ra tính cấp thiết trong công tác quản lý môi trường làng nghề để đáp ứng yêu cầu môi trường trong tiêu chí 17 về xây dựng nông thôn mới.

Xuất phát từ các lý do trên, đề tài: “Đề xuất một số giải pháp quản lý chất thải rắn sản xuất hướng tới phát triển bền vững tại làng nghề chè Tân Cương, tỉnh Thái Nguyên” được lựa chọn để nghiên cứu.

  1. Mục tiêu nghiên cứu

– Đánh giá thực trạng và công tác quản lý chất thải rắn sản xuất tại khu vực làng nghề chè Tân Cương nói chung và làng nghề chè Hồng Thái 2, xã Tân Cương, tỉnh Thái Nguyên nói riêng.

– Đề xuất một số giải pháp quản lý chất thải rắn sản xuất hướng tới phát triển bền vững (kinh tế, xã hội và môi trường) tại khu vực làng nghề chè Tân Cương nói chung và làng nghề chè Hồng Thái 2, xã Tân Cương, tỉnh Thái Nguyên nói riêng.

  1. Nội dung nghiên cứu

– Thu thập thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa – xã hội và môi trường khu vực làng nghề.

– Tổng hợp thông tin, phân tích, đánh giá thực trạng và công tác quản lý chất thải rắn sản xuất tại làng nghề chè Tân Cương nói chung và làng nghề chè Hồng Thái 2, xã Tân Cương, tỉnh Thái Nguyên nói riêng.

– Đề xuất một số giải pháp quản lý chất thải rắn sản xuất hướng tới phát triển bền vững tại làng nghề chè Tân Cương nói chung và làng nghề chè Hồng Thái 2, xã Tân Cương, tỉnh Thái Nguyên nói riêng.

 

================================================

CHƯƠNG 1. CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Tổng quan về chất thải rắn, quản lý chất thải rắn tại Thái Nguyên và làng nghề chè Thái Nguyên.

1.1.1. Một số vấn đề về chất thải rắn

Khái niệm

Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt của các hoạt động khác.

Phân loại

Rác thải được thải ra từ các hoạt động khác nhau được phân loại theo các cách sau:

– Theo vị trí hình thành: Người ta phân biệt ra rác thải trong nhà, rác thải ngoài nhà, rác thải trên đường, chợ…..

– Theo thành phần hóa học và đặc tính vật lý: Người ta phân biệt theo các thành phần vô cơ, hữu cơ, cháy được, không cháy được, kim loại, da, giẻ vụn, cao su, chất dẻo…

– Theo mức độ nguy hại

Rác thải nguy hại: Bao gồm các loại hóa chất dễ gây phản ứng, độc hại, rác thải sịnh hoạt dễ thối rữa, các chất dễ cháy, nổ hoặc các rác thải phóng xạ, các rác thải nhiễm khuẩn, lây lan… có thể gây nguy hại tới con người, động vật và gây nguy hại tới môi trường. Nguồn phát sinh ra rác thải nguy hại chủ yếu từ các hoạt động y tế, công nghiệp và nông nghiệp.

Rác thải không nguy hại: Những loại rác thải không có chứa các chất và hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp.

Các phương pháp xử lý

Chất thải rắn tùy từng mục đích và điều kiện mà có các cách xử lý khác nhau.

Phương pháp chế biến thành phân compost

Chế biến rác thải thành phân compost là một quá trình ủ rác mà trong đó các chất thối rữa chuyển hóa về mặt sinh học trong chất thải rắn biến chúng thành phân hữu cơ gọi là compost. Quá trình này đòi hỏi đảm bảo vệ sinh tốt, triệt để ngăn ngừa các sinh vật gây bệnh bằng cách sử dụng nhiệt phân hủy sinh học và chất kháng sinh do nấm tạo ra.

Các thành phần chất thải thích hợp để ủ bao gồm các chất thải hữu cơ từ bếp, vườn, giấy loại, rác thải trên đường phố, rác thải ở các chợ, rác, bùn cống, các chất thải hữu cơ từ công nghiệp thực phẩm, chất thải từ công nghiệp gỗ và giấy, phân chuồng động vật nuôi. Sản phẩm thu được vừa phục vụ cho nông lâm nghiệp, vừa có tác dụng cải tạo đất, tăng năng suất cây trồng.

Phương pháp đốt

Đốt rác là “quá trình kỹ thuật sử dụng quá trình đốt bằng ngọn lửa có điều khiển nhằm phân hủy các chất thải bằng nhiệt”. Chất bã còn lại của quá trình cháy và khí thải ra thường phải tiếp tục được xử lý. Nhiệt phát sinh trong quá trình này được thu hồi và sử dụng cho các mục đích khác nhau.

Công nghệ đốt rác có ưu điểm ít gây ra nguy cơ làm ô nhiễm nước (nước mặt và nước ngầm). Quá trình đốt rác làm giảm đáng kể khối lượng rác chôn lấp. Tuy nhiên, công nghệ đốt là quá trình cần phải đầu tư vốn ban đầu cũng như chi phí vận hành khá lớn, dễ vượt quá khả năng của hầu hết các thành phố ở các nước đang phát triển. Do đó, công nghệ đốt rác chủ yếu được chấp nhận ở các nước công nghiệp hóa vì sẽ làm giảm bớt nhu cầu về mặt bằng đất đai. Đối với các nước đang phát triển, đốt rác chủ yếu được áp dụng với các chất thải y tế và công nghiệp độc hại.

Phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh

Phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh là một phương pháp kiểm soát phân hủy chất thải trong đất bằng cách chôn nén chặt và phủ lấp bề mặt.

Chất thải rắn đọng lại trong chôn lấp bị tan rữa ra về mặt hóa học và sinh học rồi tạo ra các chất rắn, lỏng, khí.

Chi phí để vận hành bãi chôn lấp hợp vệ sinh là tương đối thấp so với phương pháp đốt. Do đó, phương pháp xử lý rác bằng chôn lấp hợp vệ sinh thường được áp dụng đối với các nước đang phát triển. Tuy nhiên, phương pháp này chi phí cao, vận hành bãi chôn lấp cần phải được kiểm tra, xử lý thường xuyên khí và nước rác được tạo ra trong quá trình phân hủy rác gây ảnh hưởng cho môi trường và con người.

1.1.2. Công tác quản lý chất thải rắn

Khái niệm

Quản lý chất thải là hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy. Cũng theo nghị định 59/2007/NĐ-CP định nghĩa về quản lý chất thải rắn như sau: “Hoạt động quản lý chất thải rắn bao gồm các hoạt động quy hoạch quản lý, đầu tư xây dựng cơ sở quản lý chất thải rắn, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khỏe con người”.

– Thu gom chất thải rắn: Là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lưu giữ tạm thời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới thời điểm hoặc cơ sở được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp nhận.

– Lưu giữ chất thải rắn: Là việc giữ chất thải rắn trong một khoảng thời gian nhất định ở nơi cơ quan có thẩm quyền chấp nhận trước khi chuyển đến cơ sở xử lý.

– Vận chuyển chất thải rắn: Là quá trình chuyên chở chất thải rắn từ nơi phát sinh, thu gom, lưu giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc chôn lấp cuối cùng.

– Xử lý chất thải rắn: Là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật làm giảm, loại bỏ, tiêu huỷ các thành phần có hại hoặc không có ích trong chất thải rắn.

– Chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh: Là hoạt động chôn lấp phù hợp với các yêu cầu của tiêu chuẩn kỹ thuật về bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh.

– Phân loại rác tại nguồn: Là việc phân loại rác ngay từ khi mới thải ra hay gọi là từ nguồn. Đó là một biện pháp nhằm thuận lợi cho công tác xử lý rác về sau. [13]

Một số văn bản quy định về bảo vệ môi trường làng nghề

BVMT làng nghề là một trong những vấn đề bức xúc, khó khăn hiện nay. Lạm dụng danh nghĩa làng có nghề, áp dụng công nghệ sản xuất thô sơ và lạc hậu, quản lý nhà nước có những điểm thiếu rõ ràng và chồng chéo là những nguyên nhân chính dẫn đến ô nhiễm làng nghề. Đặc thù của làng nghề là mối quan hệ họ hàng, làng xã và dòng tộc nên công tác quản lý và xử lý đối tượng vi phạm mang tính chất đối phó, cả nể. Làng nghề hầu như chưa có cán bộ chuyên trách về BVMT, cán bộ các cấp ban hành nhiều chính sách quản lý môi trường mà không có quy định và hướng dẫn cụ thể mang tính chồng chéo gây khó khăn cho công tác thực hiện.

Vì vậy, các quy định về BVMT làng nghề đã được sửa đổi bổ sung quy định rõ các điều kiện về BVMT làng nghề, các cơ sở sản xuất thuộc ngành nghề được khuyến khích phát triển và các đối tượng khác trong làng nghề phải thực hiện. Công tác BVMT làng nghề có nhiều quy định, chính sách như: Nghị quyết số 19/2011/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2011 của Quốc hội về kết quả giảm sát và đẩy mạnh việc thực hiện chính sách, pháp luật về môi trường tại các khu kinh tế, làng nghề, thông tư số 46/2011/TT-BTNMT ngày 26 tháng 12 năm 2011 quy định về bảo vệ môi trường làng nghề của Bộ Tài nguyên Môi trường [17],…vv nhưng mới đây nhất là luật BVMT 2014 đã được bổ sung đầy đủ ở điều 70 về BVMT làng nghề. Đồng thời, luật BVMT 2014 quy định rõ trách nhiệm của UBND các cấp đối với môi trường làng nghề. Luật BVMT 2014 quy định chi tiết nội dung này như sau:

Điều 1: Làng nghề phải đáp ứng điều kiện về bảo vệ môi trường sau:

– Có phương án bảo vệ môi trường làng nghề.

– Có kết cấu hạ tầng đảm bảo thu gom, phân loại, xử lý, lưu trữ, thải bỏ chất thải sản xuất đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường.

– Có tổ chức tự quản về bảo vệ môi trường.

Điều 2: Cơ sở sản xuất thuộc ngành nghề được khuyến khích phát triển tại làng nghề do chính phủ quy định phải đáp ứng các yêu cầu sau:

Xây dựng và thực hiện các biện pháp BVMT theo quy định của pháp luật thực hiện các biện pháp giảm thiểu tiếng ồn, độ rung, ánh sáng, bụi, nhiệt, khí thải, nước thải và xử lý ô nhiễm tại chỗ, thu gom, phân loại, lưu trữ, xử lý chất thải rắn theo quy định của pháp luật.

Điều 3: Cơ sở sản xuất không thuộc ngành nghề được khuyến khích phát triển tại làng nghề do chính phủ quy định phải đáp ứng các yêu cầu sau:

– Thu gom, xử lý nước thải đảm bảo quy chuẩn kỹ thuật môi trường. Thu gom, phân loại, lưu trữ, xử lý, thải bỏ chất thải rắn theo quy định của pháp luật. Giảm thiểu, thu gom, xử lý bụi, khí thải theo quy định của pháp luật, bảo đảm không bị rò rỉ, phát tán khí độc hại ra ngoài môi trường, hạn chế tiếng ồn độ rung, phát sáng, phát nhiệt ảnh hưởng xấu đối với môi trường xung quanh và người lao động. Bảo đảm nguồn lực, trang thiết bị đáp ứng khả năng phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường. Xây dựng và thực hiện phương án bảo vệ môi trường.

– Tuân thủ kế hoạch di dời, chuyển đổi ngành nghề sản xuất theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Điều 4: Trách nhiệm của ủy ban nhân dân cấp xã có làng nghề được quy định như sau:

– Lập, triển khai các phương án bảo vệ môi trường cho làng nghề trên địa bàn.

– Hướng dẫn hoạt động của tổ chức tự quản về bảo vệ môi trường làng nghề.

– Hàng năm, báo cáo ủy ban nhân dân cấp huyện về công tác bảo vệ môi trường làng nghề.

Điều 5: Trách nhiệm của ủy ban nhân dân cấp huyện có làng nghề được quy định như sau:

– Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra công tác bảo vệ môi trường làng nghề trên địa bàn.

– Hằng năm, báo cáo ủy ban nhân dân cấp tỉnh về công tác bảo vệ môi trường làng nghề

Điều 6: Trách nhiệm của ủy ban nhân dân cấp tỉnh có làng nghề được quy định như sau:

– Quy hoạch, cải tạo, xây dựng và phát triển làng nghề gắn với bảo vệ môi trường.

– Bố trí ngân sách cho các hoạt động bảo vệ môi trường làng nghề

– Chỉ đạo, tổ chức đánh giá ô nhiễm và xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề trên địa bàn

– Chỉ đạo xây dựng hệ thống thu gom, xử lý nước thải, khu tập kết, xử lý chất thải rắn thông thường, chất thải nguy hại cho làng nghề.

– Quy hoạch khu công nghiệp, cụm công nghiệp làng nghề, có kế hoạch di dời cơ sở ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ra khỏi khu dân cư.[9]

1.1.3. Công tác quản lý chất thải rắn tại Thái Nguyên

Thái Nguyên, tỷ lệ thu gom CTR đạt 36%, do công ty môi trường đô thị trực tiếp quản lý. Hiện nay, công tác thu gom CTR còn nhiều bất cập, hạn chế về phương tiện, trang thiết bị thu gom. Hình thức xử lý rác tại một số khu vực trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên như sau:

– Thành phố Thái Nguyên áp dụng công nghệ chôn lấp hợp vệ sinh và xử lý nước rác bằng công nghệ vi sinh kết hợp xử lý hóa học và cơ học đảm bảo nước rác được xử lý đạt tiêu chuẩn Việt Nam trước khi xả ra môi trường.

– Huyện Định Hóa đã xây dựng được ô chôn lấp và hệ thống xử lý nước rác bằng bãi lọc trồng cây và hồ sinh học nhưng chưa đưa vào sử dụng.

– Thị xã Sông Công sử dụng bãi chôn lấp rác hợp vệ sinh và nhà máy xử lý chất thải rắn thông thường.

– Huyện Phổ Yên đã xây dựng và đưa vào sử dụng bãi chôn lấp rác hợp vệ sinh tại Đồng Hầm – Minh Đức.

– Một số huyện còn lại đổ rác lộ thiên và không có biện pháp xử lý nước rác. Về mặt kỹ thuật, bãi chôn lấp hiện có đều không đảm bảo các yêu cầu về xử lý hợp vệ sinh. Công tác quản lý vận hành các bãi chôn lấp chưa được coi trọng, đa số, các huyện chưa bố trí đủ nguồn kinh phí và nhân lực cho công tác quản lý, vận hành bãi chôn lấp. CTR sinh hoạt chủ yếu đổ lộ thiên và không có hệ thống xử lý nước rác, không có các biện pháp khử mùi, diệt côn trùng dẫn đến tình trạng các bãi chôn lấp đều đang làm ô nhiễm môi trường xung quanh.

Một số huyện có bãi chôn lấp đều thiếu thiết bị vận hành như: xe ủi, xe xúc lật, đầm nén rác, máy phun chế phẩm vi sinh và diệt côn trùng. Tất cả các bãi rác, khu xử lý CTR ở Thái Nguyên đều có diện tích nhỏ (lớn nhất là 25 ha, phần lớn dưới 9,0 ha, một số nơi chỉ có 1 ha như các bãi rác thị trấn Đu, Đình Cả. Do vậy, không đủ khả năng chứa và xử lý rác trong vòng 5-10 năm tới.[18]

1.1.4. Công tác quản lý chất thải rắn sản xuất tại làng nghề chè Thái Nguyên

Làng nghề chè ở Thái Nguyên thường có quy mô nhỏ, trình độ sản xuất thấp, thiết bị cũ và công nghệ lạc hậu chiếm gần 80%, chất thải rắn sản xuất gồm nhiều tro, bụi, chè cám, bao bì thuốc BVTV, bao bì đựng phân bón hóa học, túi hút chân không hỏng.

Công tác thu gom chất thải rắn sản xuất chưa được thu gom triệt để. Nhiều làng nghề xả thải bao bì thuốc BVTV trực tiếp ra môi trường gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí, tác động xấu đến cảnh quan và sức khỏe con người.

Công tác phân loại tại nguồn các loại chất thải chưa được triển khai triệt để, chất thải sinh hoạt và chất thải sản xuất bao gồm cả CTNH được thu gom và vận chuyển và xử lý như chất thải thông thường bằng cách chôn lấp không hợp vệ sinh.

Làng nghề thường sản xuất theo quy mô hộ gia đình nên chưa có hệ thống xử lý khí thải, nước thải, chất thải rắn sản xuất riêng mà thường xử lý chung với chất thải sinh hoạt gây ô nhiễm môi trường.

1.2. Tổng quan về làng nghề

1.2.1. Quan niệm và vấn đề xung quanh làng nghề

Khái niệm

Khái niệm làng nghề được hiểu là một địa bàn hay một khu vực dân cư sinh sống trong một làng (thôn, tương đương thôn) có hoạt động cùng ngành nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, sản xuất ở từng hộ gia đình hoặc các cơ sở trong làng, có sử dụng nguồn lực trong và ngoài địa phương, phát triển tới mức trở thành nguồn sống chính hoặc thu nhập chủ yếu của người dân.

Tiêu chí để công nhận làng nghề

Hiện nay, ở nước ta vẫn chưa có những tiêu chí cụ thể để xác định như thế nào được xem là làng nghề, nhưng nhìn chung đều thống nhất dựa vào những  tiêu chí sau:

– Giá trị sản xuất và thu nhập từ nghề phi nông nghiệp ở làng nghề đạt trên 50% so với tổng giá trị sản xuất và thu nhập chung của làng nghề trong năm hoặc doanh thu hàng năm từ làng nghề ít nhất đạt 300 triệu đồng.

– Số hộ và lao động tham gia thường xuyên hoặc không thường xuyên, trực tiếp (hoặc gián tiếp) đối với nghề phi nông nghiệp ở làng, ít nhất 30% so với tổng số hộ và lao động ở làng nghề (hoặc có ít nhất 300 lao động).

– Sản phẩm phi nông nghiệp do làng sản xuất mang tính đặc thù của làng và do người làng tạo nên.

Vai trò của phát triển làng nghề đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế

Duy trì và phát triển làng nghề vừa giải quyết công ăn việc làm cho người dân lao động vừa giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống lâu đời của dân tộc, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa. Làng nghề còn tạo ra nguồn sản phẩm phong phú đa dạng cho xã hội. [19]

1.2.2. Làng nghề chè ở Thái Nguyên

Thái Nguyên cũng là một trong những tỉnh có nhiều làng nghề nhất ở Việt Nam, với các làng nghề truyền thống, thủ công đa dạng. Thái Nguyên được biết đến với những làng nghề chè truyền thống nổi tiếng khắp cả nước và trên thị trường thế giới. Thái Nguyên là vùng chè lớn thứ 2 cả nước (trên 17.000 ha) sau tỉnh Lâm Đồng. Thái Nguyên là tỉnh dẫn đầu cả nước về sản lượng chè với gần 172.000 tấn/năm. Tất cả các huyện, thành thị của Thái Nguyên đều tham gia trồng và chế biến chè. Chè Thái Nguyên có thế mạnh về chất đất, khí hậu thích hợp cùng với bàn tay khéo léo của người dân làng nghề để tạo ra những loại trà ngon, có chất lượng đến tay người tiêu dùng. Từ năm 2008 đến năm 2011, Thái Nguyên đã có 52 làng nghề sản xuất, chế biến chè được UBND tỉnh ra quyết định công nhận làng nghề. Làng nghề chè từ lâu đã gắn liền với văn hóa mang đậm bản sắc của các dân tộc tỉnh Thái Nguyên.

Một số đặc trưng cơ bản của làng nghề chè

            – Đặc trưng về kỹ thuật công nghệ: Sản xuất chè sử dụng công cụ thô sơ, chủ yếu là người dân lao động  bằng biện pháp thủ công hái, sao, vò, sàng, đóng gói,…

      – Đặc trưng về kinh tế xã hội: Ngành nghề sản xuất chè là một ngành mang nét văn hóa truyền thống của nước ta, gần gũi với người dân Việt Nam. Chính vì vậy, trong những năm gần đây, nhà nước đã có những chính sách ưu đãi để khôi phục và phát triển ngành, góp phần bảo vệ nhiều nét văn hóa đặc sắc và đóng góp lượng lớn cho kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.

            – Đặc trưng về thị trường: Thị trường cung ứng sản phẩm còn nhỏ hẹp, thông qua mua bán tại chỗ và cung ứng cho thị trường các tỉnh trong nước. Thị trường nước ngoài phong phú, rộng lớn, nhưng có sự đòi hỏi khắt khe về chất lượng, chủng loại và sự thay đổi mẫu mã.

      – Đặc trưng về hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh:

Hộ gia đình: Huy động và sử dụng được mọi thành viên trong gia đình tham gia vào các công việc khác nhau của quá trình sản xuất kinh doanh, tận dụng được thời gian lao động và mặt bằng sản xuất, quản lý dễ dàng.

1.3. Tổng quan về phát triển bền vững

Khái niệm

Theo WCED, 1987: “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không xâm phạm đến khả năng làm thỏa mãn nhu cầu của thế hệ tương lai”.

Mục tiêu của phát triển bền vững

Mục tiêu của phát triển bền vững là đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần và văn hóa, sự bình đẳng của cá công dân và sự đồng thuận của xã hội, sự hài hòa giữa con người và tự nhiên. Phát triển bền vững có 3 mục tiêu chính là phát triển bền vững về kinh tế, văn hóa – xã hội và môi trường.

Nguyên tắc phát triển bền vững

Nguyên tắc phát triển bền vững đưa ra nhằm phục vụ cho việc xác định quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân đối với cộng đồng. Các quy định nhằm đảm bảo thực hiện đúng các nguyên tắc PTBV:

– Nguyên tắc về sự ủy thác của nhân dân.

– Nguyên tắc bình đẳng giữa các thế hệ.

– Nguyên tắc phòng ngừa.

– Nguyên tắc phân quyền và ủy quyền.

– Nguyên tắc bình đẳng trong nội bộ thế hệ.

– Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền.

– Nguyên tắc người sử dụng phải trả tiền.[5]

Phát triển bền vững làng nghề ở Việt Nam

Hiện nay, cả nước có 4.575 làng nghề, thu hút khoảng 12 triệu lao động. Trong đó có nhiều làng tồn tại hàng trăm năm, trở thành những làng nghề tiêu biểu, được cả nước và thế giới biết đến như lụa Vạn Phúc, tranh Đông Hồ, gốm sứ Bát Tràng, Chu Đậu, Bầu Trúc,…[1]

Vấn đề bảo vệ môi trường và PTBV làng nghề luôn được nhà nước coi là mục tiêu chiến lược để phát triển đất nước. Hiện nay, nhà nước có nhiều hoạt động tích cực để thực hiện kế hoạch như: luật bảo vệ môi trường 2014 sửa đổi bổ sung điều 70 về bảo vệ môi trường làng nghề, thông tư số 46/2011/TT-BTNMT ngày 26 tháng 12 năm 2011 quy định về bảo vệ môi trường làng nghề của Bộ Tài nguyên Môi trường và nhiều văn bản hướng dẫn thực hiện.

Về kinh tế, làng nghề là nơi thu hút nhiều lao động nhất khoảng 12 triệu lao động, trong đó có 35% là lao động thường xuyên còn lại là lao động thời vụ và nông nhàn, tạo việc làm và cải thiện đời sống cho đông đảo cư dân nông thôn. Thu nhập bình quân của lao động làng nghề thường cao hơn lao động nông nghiệp từ 2 – 3 lần.

Về văn hóa, làng nghề lưu giữ nhiều giá trị văn hóa truyền thống vật thể và phi vật thể, thể hiện trên những văn hoa tinh xảo, công nghệ chế tác độc đáo. Có nhiều làng nghề gắn với các di tích cách mạng, lịch sử dân tộc. Về xã hội, làng nghề góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng nông thôn mới, xây dựng được đường sá khang trang, có lưới điện, mở thêm nhà văn hóa, trường học, trạm xá… Quan trọng hơn nữa là trong làng nghề có tính cộng đồng cao, tình làng nghĩa xóm được bảo vệ và gắn kết chặt chẽ.

Về môi trường, hầu hết, các làng nghề truyền thống công tác quản lý và bảo vệ môi trường còn hạn chế, chất thải được thải ra ngoài môi trường mà không có biện pháp xử lý, tích tụ trong thời gian dài gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, nhiều làng nghề vẫn phải sống chung với ô nhiễm, chịu nhiều bệnh tật, tuổi thọ giảm sút. Đáng chú ý, việc quy hoạch làng nghề triển khai chậm, nhiều cơ sở làng nghề ô nhiễm nặng chưa được di dời.

Như vậy, thực trạng chung làng nghề Việt Nam là phát triển kinh tế, xã hội, cơ sở hạ tầng mà chưa quan tâm tới vấn đề môi trường. Vì vậy, để phát triển bền vững làng nghề phải kết hợp được cả ba mục tiêu (kinh tế, văn hóa, môi trường).

 

==============================================================

CHƯƠNG 2. PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian:

– Đề tài giới hạn nghiên cứu trong phạm vi hoạt động của làng nghề chè Tân Cương, tỉnh Thái Nguyên.

– Tập trung nghiên cứu thực trạng và công tác quản lý chất thải rắn sản xuất tại làng nghề chè Tân Cương nói chung và làng nghề chè Hồng Thái 2, xã Tân Cương, tỉnh Thái Nguyên nói riêng.

Phạm vi khoa học:

– Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội và môi trường khu vực làng nghề xã Tân Cương, tỉnh Thái Nguyên.

– Tổng quan công tác quản lý chất thải rắn sản xuất tại làng nghề chè Tân Cương, tỉnh Thái Nguyên.

– Hiện trạng môi trường và công tác quản lý chất thải rắn sản xuất tại làng nghề chè Hồng Thái 2, xã Tân Cương, tỉnh Thái Nguyên.

Phạm vi thời gian

Thời gian nghiên cứu, khảo sát được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 10/2014 đến tháng 4/2015.

Nghiên cứu thực địa: Tác giả tiến hành nghiên cứu thực địa làm 2 đợt:

– Đợt 1: Từ 01/10/2014 đến – 30/12/2014: Đến UBND xã Tân Cương thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, khảo sát, đánh giá dựa vào cộng đồng. Đến khu vực làng nghề Hồng Thái 2, xã Tân Cương để tìm hiểu về thực trạng quản lý chất thải rắn sản xuất ở quanh khu vực làng nghề và đề xuất một số giải pháp để hướng tới pháp triển bền vững tại làng nghề chè Tân Cương, tỉnh Thái Nguyên. Tiến hành quan sát thực địa và phỏng vấn nhanh người dân ở khu vực làng nghề Hồng Thái 2.

– Đợt 2: Từ 01/1/2015 đến 10/2/2015: Đến phỏng vấn sâu người dân bằng các phiếu điều tra với các nội dung cần thiết cho đề tài (phụ lục)

2.2. Đối tượng nghiên cứu

– Thực trạng và công tác quản lý CTR sản xuất tại khu vực làng nghề chè Tân Cương.

– Chất thải rắn do hoạt động sản xuất chè.

2.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

2.2.1. Ý nghĩa khoa học

Hiện nay, Thái Nguyên đã được triển khai một số đề tài nghiên cứu về môi trường và đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn. Tuy nhiên, ở các làng nghề chưa có đề tài chuyên sâu nghiên cứu về vấn đề quản lý chất thải rắn sản xuất. Do vậy, kết quả của đề tài là tài liệu tham khảo có giá trị trong nghiên cứu cho các nhà quản lý đất đai, các nhà quy hoạch và các nhà quản lý môi trường tại địa phương xây dựng các kế hoạch, quy hoạch phù hợp để phát triển kinh tế, xã hội của khu vực làng nghề chè.

2.2.2. Ý nghĩa thực tiễn

Đề tài giới thiệu chung về thực trạng môi trường làng nghề chè Tân Cương, tỉnh Thái Nguyên, giúp các nhà hoạch định đề xuất chính sách và quản lý chất thải rắn góp phần phát triển bền vững và nâng cao đời sống cho người dân trong khu vực làng nghề.

2.3. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Quan điểm nghiên cứu

            – Quan điểm tổng hợp và hệ thống: Mục tiêu chung của chiến lược quản lý chất thải rắn làng nghề là: Từng bước hình thành và thực hiện hệ thống quản lý chất thải rắn tại khu vực làng nghề một cách đồng bộ, khoa học, nhằm nâng cao hiệu quả và năng lực công tác quản lý môi trường tại địa phương. Vì vậy, việc nghiên cứu công tác quản lý chất thải rắn tại khu vực làng nghề chè nổi tiếng như Tân Cương là cần thiết và phải được xem xét một cách có hệ thống và tổng thể, không đánh giá theo một khía cạnh riêng biệt nào cả.

            – Quan điểm phát triển bền vững: Theo WCED, 1987: “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không xâm phạm đến khả năng làm thỏa mãn nhu cầu của thế hệ tương lai”. Sự bền vững về phát triển của một xã hội có thể được đánh giá bằng những chỉ tiêu nhất định trên ba mặt kinh tế, xã hội, tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Quản lý chất thải là một vấn đề xã hội lớn đòi hỏi phải thiết lập những khuôn khổ pháp lý làm cơ sở cho việc hoàn thiện các thể chế, quy định của chính phủ về quản lý chất thải và sự tham gia rộng rãi của cộng đồng, các tổ chức xã hội trong nỗ lực tạo ra một môi trường phát triển thịnh vượng, bền vững.[13]

2.3.2.  Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu tài liệu

– Thu thập các tài liệu như: Luật bảo vệ môi trường 2014 những quy định về bảo vệ môi trường làng nghề, chính sách của cơ quan chức năng về biện pháp quản lý chất thải rắn sản xuất làng nghề tại Việt Nam và trên thế giới, báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2011,…vv.

– Tìm hiểu về thành phần, tính chất của chất thải rắn sản xuất tại làng nghề chè Tân Cương dựa trên nghiên cứu tài liệu đã thu thập được.

Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu

– Phương pháp phân tích thống kê, xử lý số liệu để phân tích các nhân tố ảnh hưởng, đánh giá thực trạng thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sản xuất tại làng nghề chè Tân Cương trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.

            – Tổng hợp tất cả các số liệu thu thập được, làm sạch số liệu, nhập số liệu, thống kê và tổng hợp số liệu bằng Excel để tính toán khối lượng và thành phần chất thải rắn được áp dụng trong nghiên cứu chất thải rắn sản xuất trong khu vực làng nghề tại khu vực nghiên cứu.

Phương pháp điều tra

            Phương pháp điều tra sơ cấp: Thu thập thông tin thông qua quá trình quan sát thực tế, phỏng vấn người dân và lập phiếu điều tra thông tin liên quan đến chất thải rắn sản xuất tại làng nghề.

Phương pháp điều tra thứ cấp: Thu thập thông tin đã được công bố về hiện trạng chất thải rắn sản xuất, công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sản xuất ở các làng nghề tỉnh Thái Nguyên. Tham khảo quy trình thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sản xuất mà các làng nghề đang thực hiện.

Phương pháp đánh giá nhanh dựa vào cộng đồng ( PRA)

Trong quá trình nghiên cứu phương pháp này sử dụng một số kỹ thuật như: kỹ thuật quan sát trực tiếp để ghi nhận, đo đếm, ghi chép và lựa chọn thời điểm vị trí thích hợp để quán sát. Từ đó, sắp xếp nội dung câu hỏi phỏng vấn cho các đối tượng phù hợp.

Phương pháp chuyên gia

Tham vấn ý kiến của thầy cô hướng dẫn, thầy cô trong khoa và các chuyên gia trong ngành môi trường, quản lý môi trường làng nghề tại khu vực nghiên cứu.

=============================================================

 

 

CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Cơ sở lựa chọn khu vực nghiên cứu

Tân Cương được du khách trong và ngoài nước biết đến với các làng nghề chè truyền thống, 16/16 xóm đều tham gia sản xuất chè không phải tất cả đều đã được công nhận làng nghề. Một trong những xóm được công nhận làng nghề truyền thống đầu tiên là làng nghề chè Hồng Thái 2 sản xuất chè ngon nhất và được xem là ông tổ của làng nghề chè Tân Cương.

Làng nghề chè Hồng Thái 2 nằm trong khu vực trung tâm của xã Tân Cương cách thành phố Thái Nguyên 12km về phía Nam với tổng diện tích tự nhiên 150ha. Phía Đông giáp xóm Khuôn 2 – xã Phúc Trìu, phía Tây giáp xã Quyết Thắng – thành phố Thái Nguyên, phía Nam giáp xóm Nam Sơn, phía Bắc giáp xóm Hồng Thái 1.

Hàng năm, các chương trình lễ hội như festival chè được tổ chức tại “không gian văn hóa chè” thu hút một lượng khách trong và ngoài nước về tham quan. Làng nghề chè Hồng Thái 2 được công nhận làng nghề chè truyền thống năm 2010 có 167 hộ dân với 775 nhân khẩu, 100% các hộ đều tham gia sản xuất chè. Hiện nay, Hồng Thái 2 có 60ha chè, có 20ha chè giống mới như: Kim Tuyên, Đài Loan, LĐP1, Bát Tiên,… năng suất trung bình đạt 3,2 tấn/ha/năm, sản lượng đạt 224 tấn/năm. Giá bán chè bình quân đạt từ 150 – 700 nghìn đồng/kg búp khô, đặc biệt loại chè đinh có giá từ 1 – 5 triệu đồng/kg.

Năm 2014, tổng doanh thu từ cây chè của làng nghề Hồng Thái 2 đạt gần 17,8 tỷ đồng, bình quân mỗi hộ gia đình thu nhập từ 100 – 150 triệu đồng/ha/năm. Cây chè đã giúp cho đời sống của người dân ngày càng được cải thiện, nhiều hộ gia đình đã có điều kiện mở rộng quy mô sản xuất, cung cấp lượng lớn chè cho các tỉnh trong nước và nước ngoài. Làng nghề Hồng Thái 2 đã có 10 hộ đăng ký tạm lưu trú có đầy đủ tiện nghi cho khách du lịch trong nước và nước ngoài đến nghỉ ngơi và tham quan làng nghề.[14]

Hiện nay, công tác quản lý chất thải rắn sản xuất của làng nghề chè Hồng Thái 2 chưa được quan tâm gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân và chất lượng của sản phẩm.

Như vậy, làng nghề chè Hồng Thái 2 là làng nghề đặc trưng, hội tụ đầy đủ các yếu tố nhất của làng nghề chè Tân Cương được lựa chọn làm khu vực nghiên cứu.

3.2. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực làng nghề chè Tân Cương – tỉnh Thái Nguyên

3.2.1.  Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý

Tân Cương là một xã ngoại thành phía Tây Nam của thành phố Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên. Phía Bắc giáp xã Phúc Trìu, phía Đông giáp xã Thịnh Đức, phía Nam giáp xã Bình Sơn (thị xã Sông Công), phía Tây giáp xã Phúc Tân (huyện Phổ Yên).

Tọa độ địa lý: 21029’00’’-21031’00’’ vĩ độ