Hiện trạng đa dạng sinh học và các vấn đề ưu tiên trong quản lý đa dạng sinh học tại Việt Nam
3.5 (70%) 2 votes

TS. Phạm Anh Cường,

Cục trưởng Cục Bảo tồn đa dạng sinh học, Tổng cục Môi trường

Số 10 Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội

E-mail: pacuong@monre.gov.vn / pacuong@yahoo.com

 

TÓM TẮT

Đa dạng sinh học có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xã hội và môi trường tại Việt Nam, là cơ sở đảm bảo an ninh lương thực; duy trì nguồn gen vật nuôi, cây trồng; cung cấp các vật liệu cho xây dựng và các nguồn nhiên liệu, dược liệu. Tuy nhiên trong những năm gần đây, đa dạng sinh học Việt Nam đang đối mặt với nhiều mối đe dọa: Việc gia tăng dân số và mức tiêu dùng, thay đổi phương thức sử dụng đất, xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng, khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên, sự du nhập của các loài ngoại lai xâm hại, ô nhiễm môi trường và những tác động của biến đổi khí hậu…. Báo cáo này, chúng tôi sẽ trình bày về hiện trạng đa dạng sinh học của Việt Nam để từ đó đưa ra các vấn đề ưu tiên trong quản lý đa dạng sinh học tại nước ta trong giai đoạn sắp tới.

Từ khóa: Đa dạng sinh học, hệ sinh thái, loài, nguồn gen, hiện trạng về đa dạng sinh học, vấn đề ưu tiên về quản lý đa dạng sinh học

ABSTRACT

Biodiversity plays a very important role in the socio-economic and environmental development of Vietnam. Through these services, biodiversity makes significant contribution to the national economy, providing a basis for ensuring food security; maintaining genetic resources of animals and plants; and providing materials for construction, fuel and pharmaceutical resources. However, Vietnam’s biodiversity is facing many threats: Pressure from the increasing human population growth combined with an increasing level of consumption, land – use conversion and infrastructure construction, overexploitation of natural resources, introduction of  alien species, environment pollution and climate change… This report aims to evaluate  biodiversity status and set out priority issues about biodiversity management in future.

Keywords: Biodiversity, ecosystem, species, genetic resource, biodiversity status, priority issues about biodiversity management.

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Đa dạng sinh học (ĐDSH) là nền tảng cho sự sống và phát triển của con người. ĐDSH được xem là “vốn tự nhiên” cho giảm nghèo, tăng trưởng xanh và phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu (BĐKH), mất an ninh lương thực, khủng hoảng kinh tế mà nhiều khu vực, quốc gia đang phải đối mặt. Cam kết bảo tồn và đầu tư cho bảo tồn ĐDSH được quốc tế xem là sự đầu tư cho tương lai và đang trở thành một điều kiện, nội dung bắt buộc trong các tiến trình đàm phán về hợp tác kinh tế và thương mại quốc tế.

Việt Nam là quốc gia giàu có về ĐDSH, được xếp hạng thứ 16 trên thế giới về mức độ đa dạng của tài nguyên sinh vật. Tính đa dạng về hệ sinh thái (HST) bao gồm rừng, biển, đất ngập nước; sự phong phú và giàu có về các loài và nguồn gen sinh vật; và dịch vụ sinh thái-môi trường do chúng mang lại; cùng hệ thống các kiến thức truyền thống và văn hóa địa phương về quản lý và sử dụng tài nguyên đã làm cho ĐDSH có vai trò và giá trị vô cùng to lớn trong việc đảm bảo an ninh lương thực và phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam, nhất là lĩnh vực sản xuất nông lâm nghiệp và thủy sản. Du lịch sinh thái cũng đang trở thành ngành kinh tế đầy tiềm năng, thu hút đầu tư trong và ngoài nước.

Nhận thức được sự cần thiết phải bảo tồn ĐDSH, từ đầu những năm 1960 của thế kỷ trước, Đảng và nhà nước đã có những chính sách bảo vệ các khu rừng nguyên sinh (rừng cấm), nhờ đó Vườn quốc gia Cúc Phương được thành lập. Tuy nhiên, quyết tâm và cam kết bảo tồn ĐDSH của nhà nước được chú trọng hơn sau khi Việt Nam trở thành viên công ước CBD và CITES năm 1994. Một hệ thống các vườn quốc gia và khu bảo tồn (VQG/KBT) của Việt Nam đã được quy hoạch và thành lập trên toàn quốc (theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Thủy sản). Đến nay, Việt Nam đã có 164 KBT rừng đặc dụng với tổng diện tích gần 2,2 triệu ha và dự kiến đến năm 2020 sẽ nâng lên 176 khu tương đương 2,4 triệu ha[1]. Thành tựu và cũng là cột mốc quan trọng nhất cho sự nghiệp bảo tồn ĐDSH Việt Nam là Luật ĐDSH được Quốc hội thông qua ngày 13/11/2008 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/7/2009. Luật ĐDSH được đánh giá là rất tiến bộ, có tầm nhìn, hệ thống và tiếp cận đầy đủ các cam kết và chuẩn mực quốc tế về bảo tồn ĐDSH. Đây là khung luật đầu tiên của Việt Nam quy định về bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH. Trên cơ sở này, đến nay đã có 10 Nghị định của Chính phủ, 12 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và 23 Thông tư của Bộ trưởng đã được ban hành, thể chế hóa các chiến lược, quy hoạch, cơ chế về bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH Việt Nam.

2015-11-07_212348

Tuy vậy, không thể phủ nhận được thực tế là tài nguyên ĐDSH của Việt Nam liên tục bị suy giảm và suy thoái dưới áp lực của gia tăng dân số, khai thác quá mức tài nguyên sinh vật và sự đánh đổi với ưu tiên phát triển kinh tế. Việt Nam không phải là trường hợp cá biệt, mà đây là tình trạng chung ở giai đoạn chuyển đổi của các quốc gia đang phát triển có nền kinh tế dựa vào khai thác tài nguyên. Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 của Ban chấp hành TƯ Đảng về chủ động ứng phó với BĐKH, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đã nhận định: “…ĐDSH suy giảm, nguy cơ mất cân bằng sinh thái đang diễn ra trên diện rộng, ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển kinh tế-xã hội, sức khỏe và đời sống nhân dân”. Đồng thời, Nghị quyết cũng giao nhiệm vụ cho các cơ quan quản lý Nhà nước thực hiện các nội dung: (i) Bảo vệ, phục hồi, tái sinh rừng tự nhiên, đẩy mạnh trồng rừng, nhất là rừng ngập mặn, rừng phòng hộ ven biển, rừng đầu nguồn. Ngăn chặn có hiệu quả nạn phá rừng, cháy rừng. Sớm dừng khai thác gỗ rừng tự nhiên; (ii) Tăng cường quản lý, mở rộng diện tích các khu bảo tồn thiên nhiên hiện có tại những nơi có đủ điều kiện và đẩy nhanh việc thành lập các khu bảo tồn thiên nhiên mới. Ưu tiên nguồn lực cho bảo vệ cảnh quan, sinh thái, di sản thiên nhiên; (iii) Bảo vệ nghiêm ngặt các loài động vật hoang dã, các giống cây trồng, cây dược liệu, vật nuôi có giá trị, loài quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng. Ngăn chặn sự xâm nhập, phát triển của sinh vật ngoại lai xâm hại; (iv) Tăng cường quản lý rủi ro từ sinh vật biến đổi gen.

Nhằm duy trì và bảo tồn ĐDSH và thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban chấp hành TƯ Đảng, các cơ quan Nhà nước phải triển khai đồng bộ rất nhiều các giải pháp, biện pháp. Tuy nhiên, để công tác bảo tồn ĐDSH sớm đi vào nề nếp và đạt hiệu quả thì việc xác định rõ và tổ chức triển khai các nhiệm vụ ưu tiên nhằm duy trì, bảo tồn sự ĐDSH của Quốc gia là việc quan trọng đầu tiên chúng ta phải làm.

II. HIỆN TRẠNG ĐA DẠNG SINH HỌC CỦA VIỆT NAM

2.1. Tầm quan trọng của đa dạng sinh học

ĐDSH ở Việt Nam có ý nghĩa to lớn trong đời sống tự nhiên và con người, thể hiện qua chức năng và tầm quan trọng của các hệ sinh thái. Không chỉ là nơi cư trú, môi trường sống của nhiều loài sinh vật, các HST còn có chức năng cung cấp các loại hình dịch vụ như sau:

Dịch vụ cung cấp: HST mang đến những lợi ích trực tiếp cho con người, thường có giá trị kinh tế rõ ràng, đóng góp lớn cho nền kinh tế quốc gia, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất nông lâm nghiệp và thủy sản; là cơ sở đảm bảo an ninh lương thực của đất nước; duy trì nguồn gen tạo giống vật nuôi, cây trồng; cung cấp các vật liệu xây dựng và các nguồn nguyên liệu, dược liệu; cung cấp khoảng 80% lượng thủy sản khai thác từ vùng biển ven bờ và đáp ứng gần 40% lượng protein cho người dân. Nghề thủy sản đem lại nguồn thu nhập chính cho khoảng 8 triệu người và một phần thu nhập cho khoảng 12 triệu người.

Tổng trữ lượng hải sản ở biển Việt Nam ước tính khoảng 3,075 triệu tấn (số liệu điều tra giai đoạn 2011-2012 của Viện Nghiên cứu hải sản). Tổng sản lượng khai thác nên ở mức 1,7 đến 1,9 triệu tấn năm. Hiện nay, tổng sản lượng khai thác đang ở mức 2,7 triệu tấn/năm.

Dịch vụ văn hóa: HST không chỉ cung cấp những lợi ích vật chất trực tiếp mà còn đóng góp vào những nhu cầu lớn hơn của xã hội. Các HST có tính ĐDSH cao cung cấp giá trị vô cùng to lớn cho các ngành giải trí ở Việt Nam với các loại hình du lịch sinh thái, hứa hẹn đem lại nhiều giá trị kinh tế và góp phần quan trọng vào việc nâng cao nhận thức của người dân về tầm quan trọng của ĐDSH và công tác bảo tồn thiên nhiên (BTTN). Khoảng 70% tăng trưởng du lịch là từ các vùng duyên hải có các HST tự nhiên giàu ĐDSH. Theo báo cáo của 14/30 VQG và các khu BTTN, năm 2011 đã đón tiếp 728.000 lượt khách, với tổng doanh thu trên 30 tỷ đồng.

Dịch vụ điều tiết: Dịch vụ điều tiết bao gồm: sự điều hòa khí hậu thông qua lưu trữ cacbon và kiểm soát lượng mưa, lọc không khí và nước, phân hủy các chất thải trong môi trường, giảm nhẹ những tác hại của thiên tai như lở đất hay bão lũ. Giá trị lưu giữ và hấp thụ cacbon của rừng Việt Nam là rất đáng kể, đặc biệt là rừng tự nhiên. Giá trị này tỷ lệ thuận với trữ lượng và sinh khối rừng. Kết quả nghiên cứu đã xác định: giá trị lưu giữ cacbon của rừng tự nhiên là 35-85 triệu đồng/ha/năm và giá trị hấp thụ cacbon hàng năm khoảng 0,4-1,3 triệu đồng/ha/năm đối với Miền Bắc. Ở Miền Trung, giá trị lưu giữ cacbon trong khoảng 37- 91 triệu đồng/ha/năm và giá trị hấp thụ cacbon là 0,5- 1,5 triệu đồng/ha/năm. Ở Miền Nam, giá trị lưu giữ cacbon là 46-91 triệu đồng/ha/năm và giá trị hấp thụ cacbon là 0,6-1,5 triệu đồng/ha/năm.

Dịch vụ hỗ trợ: Đây là yếu tố thiết yếu trong các chức năng của HST và gián tiếp ảnh hưởng đến tất cả các loại dịch vụ khác. Có thể ví dụ về dịch vụ hỗ trợ như sự hình thành đất hay quá trình sinh trưởng của thực vật. Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, hàng năm phải chịu từ 5 đến 8 cơn bão và áp thấp nhiệt đới kèm theo mưa lớn. Nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu HST rừng ngập mặn (MERC) cho thấy, hệ thống rễ dày đặc của các loài cây rừng ngập mặn có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ đất ven biển và vùng cửa sông. Chúng vừa ngăn chặn hiệu quả sự công phá bờ biển của sông, vừa làm vật cản cho trầm tích lắng đọng như giữ hoa lá, cành rụng trên mặt bùn và phân hủy tại chỗ nên bảo vệ được đất. Một số loài cây tiên phong như Mắm biển, Mắm trắng, Bần trắng sinh trưởng trên đất bồi non có khả năng giữ đất phù sa, mở rộng đất liền ra phía biển như ở vùng Tây Nam mũi Cà Mau, dọc sông Đồng Tranh, Cần Giờ, TP. Hồ Chí Minh, các bãi bồi ở cửa sông Hồng.

Các nghiên cứu cho thấy, các dải rừng ngập mặn ven biển Việt Nam góp phần giảm ít nhất 20 – 50% thiệt hại do bão, nước biển dâng và sóng thần gây ra. Đặc biệt, hệ thống rừng ngập mặn trồng ven đê còn đóng vai trò là tấm là chắn xanh, giảm 20 – 70% năng lượng của sóng biển, đảm bảo an toàn cho các con đê biển, giúp tiết kiệm hàng nghìn tỷ đồng cho việc duy tu, sửa chữa đê biển.

2015-11-07_212446

2.2. Hiện trạng đa dạng sinh học

2.2.1. Hiện trạng các hệ sinh thái ở Việt Nam

a) Các hệ sinh thái quan trọng

HST ở Việt Nam rất đa dạng, trong đó có 3 nhóm chính: HST trên cạn, HST đất ngập nước và HST biển.

– HST trên cạn: Trên phần lãnh thổ vùng lục địa ở Việt Nam, có thể phân biệt các kiểu HST trên cạn đặc trưng như: rừng, đồng cỏ, savan, đất khô hạn, đô thị, nông nghiệp, núi đá vôi. Trong các kiểu HST ở cạn, thì HST rừng có tính đa dạng về thành phần loài cao nhất, đồng thời đây cũng là nơi cư trú của nhiều loài động vật, thực vật hoang dã có giá trị kinh tế và khoa học. Tổng diện tích hệ sinh rừng khoảng 32 triệu ha và tập trung nhiều ở các vùng Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Mục tiêu trong thời gian tới là sẽ tăng độ che phủ rừng lên 42 – 43% vào năm 2015 và 44 – 45% vào năm 2020, góp phần đáp ứng các yêu cầu về môi trường cho quá trình phát triển bền vững của đất nước.

Theo báo cáo tổng kết Dự án “Trồng mới 5 triệu ha rừng” và kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2001 – 2010 của Chính phủ (báo cáo số 1328/CP – ngày 09 tháng 8 năm 2011), năm 2005, tổng trữ lượng gỗ cả nước là 811,6 triệu m3 (chiếm 6,5% tổng trữ lượng gỗ). Đến năm 2010, tổng trữ lượng gỗ của cả nước là 935,3 triệu m3, trong đó, gỗ rừng tự nhiên chiếm 92,8% và 8,5 tỷ cây tre nứa, trữ lượng gỗ rừng trồng là 74,8 triệu m3 (chiếm 7,9% tổng trữ lượng gỗ). So với năm 2006, trữ lượng gỗ của cả nước tăng được 123,7 triệu m3 (chiếm 15,24%). Tuy nhiên, chất lượng rừng của một số trạng thái rừng giàu, trung bình, rừng ngập mặn thuộc rừng tự nhiên tiếp tục giảm. Theo thống kê của Cục Kiểm lâm và Viện Điều tra Quy hoạch Rừng thì độ che phủ của rừng năm 2010 đã đạt 39,5%.

– HST đất ngập nước (ĐNN): ĐNN Việt Nam rất đa dạng về kiểu loại với hơn 10 triệu ha, phân bố ở hầu hết các vùng sinh thái của nước ta, gắn bó lâu đời với cộng đồng dân cư và có vai trò to lớn đối với đời sống nhân dân và phát triển kinh tế – xã hội.

ĐNN được chia thành 2 nhóm chính là ĐNN ven biển và ĐNN nội địa. ĐNN ven biển Việt Nam đa dạng về kiểu, gồm 20 kiểu (Hệ thống phân loại ĐNN Việt Nam, Cục Bảo vệ Môi trường, 2007) với tổng diện tích khoảng 1,9 triệu ha (Theo bản đồ ĐNN ven biển Việt Nam tỷ lệ 1:100.000, Trung tâm Viễn thám – Bộ TN&MT, 2007) phân bố trên phạm vi 126 huyện ven biển (29 tỉnh, thành phố có biển) có đường ranh giới tiếp giáp với biển và phần đất ven biển chịu tác động của nước biển.

HST thuỷ vực nước ngọt rất đa dạng bao gồm các thuỷ vực nước đứng như hồ, hồ chứa, ao, đầm, ruộng lúa nước; các thuỷ vực nước chảy như suối, sông, kênh rạch. Trong đó, một số kiểu có tính ĐDSH cao như suối vùng núi đồi, đầm lầy than bùn với nhiều loài động vật mới cho khoa học đã được phát hiện. Các HST sông, hồ ngầm trong hang động cát tơ còn ít được nghiên cứu.

Việt Nam có 2 vùng ĐNN nội địa quan trọng là vùng cửa sông Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long: (i) ĐNN ở vùng cửa sông Đồng bằng sông Hồng có diện tích 229.762 ha (Hội khoa học đất Việt Nam, 2009). Đây là nơi tập trung các HST nước lợ và mặn với thành phần loài thực vật, động vật phong phú của các vùng rừng ngập mặn, đặc biệt đây là nơi cư trú của nhiều loài chim nước; (ii) ĐNN Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích đất ngập nước 4.939.684 ha. Đây là bãi đẻ quan trọng của nhiều loài thủy sản di cư từ phía thượng nguồn sông Mê Kông. Những khu rừng ngập nước và đồng bằng ngập lũ cũng là những vùng có tiềm năng sản xuất cao. Có 3 HST tự nhiên chính ở Đồng bằng sông Cửu Long là HST ngập mặn ven biển, HST rừng tràm ở vùng ngập nước nội địa và HST cửa sông.

– HST biển: Theo thống kê, Việt Nam có 20 kiểu HST biển điển hình. Dựa trên kết quả những kết quả nghiên cứu và phân tích các kiểu HST biển với các đặc trung về điều kiện tự nhiên và môi trường biển, đặc biệt tính ĐDSH của rạn san hô, có thể phân chia vùng biển Việt Nam thành 6 vùng ĐDSH. Các kết quả nghiên cứu cho thấy các kiểu HST rạn san hô, thảm cỏ biển quanh các đảo ven bờ là nơi có mức ĐDSH biển cao nhất đồng thời cũng rất nhạy cảm với những biến đổi của môi trường. Trong các vùng biển của Việt Nam, quần đảo Trường Sa là vùng có tính đa dạng của rạn san hô cao nhất thế giới.

Theo dẫn liệu điều tra, nghiên cứu trong giai đoạn 2008 – 2010 của Viện Tài nguyên và Môi trường biển, tổng diện tích thật có của rạn san hô Việt Nam chỉ còn khoảng 14.130 ha. Hiện nay, các rạn san hô chủ yếu đang ở trong tình trạng xấu. Các điều tra từ năm 2004 đến 2007 tại 7 vùng rạn san hô trọng điểm của Việt Nam cho thấy chỉ có 2,9% diện tích rạn san hô được đánh giá là trong điều kiện phát triển rất tốt, 11,6% ở trong tình trạng tốt, 44,9% ở trong tình trạng xấu và rất xấu. Các rạn san hô phân bố ở vùng ven bờ có nguy cơ suy giảm nhanh theo thời gian. Điều này thể hiện qua độ phủ giảm đi một cách đáng kể. Theo kết quả nghiên cứu của Viện Hải dương học Nha Trang, từ năm 1994 – 2007, độ phủ rạn san hô giảm trong khoảng 2,8 – 29,7% (trung bình là 10,6%), đặc biệt ở vùng biển Côn Đảo, vùng ven bờ Ninh Hải – Ninh Thuận và vịnh Nha Trang. Rạn san hô Cô Tô – Quảng Ninh vốn được xem là phát triển rất tốt, tỷ lệ phủ đạt 60 – 80%, có nơi đạt độ phủ gần 100%. Năm 2007, các quan trắc và theo dõi hiện trạng rạn san hô được Viện Tài nguyên và Môi trường biển thực hiện, kết quả cho thấy rạn san hô ở đây đã bị chết khá nhiều, có nơi độ phủ của san hô chết của toàn đảo lên đến 90%. Nguyên nhân gây chết phần lớn các loài san hô ở xung quanh quần đảo Cô Tô một phần có thể là do một số ngư dân đánh bắt cá trong các rạn san hô này.

Cũng như rạn san hô, HST thảm cỏ biển của nước ta cũng đang bị giảm dần diện tích một phần do tai biến thiên nhiên, phần khác là do lấn biển để làm các ao nuôi thủy sản và xây dựng công trình ven biển. Theo thống kê chung trên cả nước thì hiện nay diện tích các thảm cỏ biển của Việt Nam bị giảm từ 40 – 70%. Diện tích thảm cỏ biển Cửa Đại (Quảng Nam) giảm gần 70% (2009); các thảm cỏ biển ở nam mũi Đá Chồng (Đồng Nai) giảm từ 45 – 60% xuống dưới 19% (2009) và ở Hàm Ninh (Quảng Bình) giảm từ 30% (2004) xuống còn 15% (2009). Như vậy, độ phủ của thảm cỏ biển ở những khu vực này chỉ còn bằng một nửa so với 5 năm trước. Chất lượng môi trường biển suy giảm làm môi trường sống của hầu hết các loài sinh vật biển bị phá hủy, gây nhiều tổn thất về ĐDSH: nhiều loài sinh vật biển giảm số lượng, thậm chí có loài có thể đã tuyệt chủng cục bộ.

Theo thống kê, tính đến năm 2012, 56% tổng diện tích rừng ngập mặn trên toàn quốc là rừng mới trồng, thuần loại, chất lượng rừng kém cả về kích cỡ, chiều cao cây và đa dạng thành phần loài. Những cánh rừng ngập mặn nguyên sinh hầu như không còn. Sự suy thoái này thể hiện rõ nét nhất qua sự suy giảm nhanh chóng về diện tích và chất lượng các khu rừng ngập mặn. Năm 1943, nước ta có hơn 408.500 ha rừng ngập mặn, tuy nhiên đến năm 1990, diện tích rừng ngập mặn chỉ còn khoảng 255.000 ha, năm 2006 là 209.741 ha[2], đến 2010 là 140.000 ha và tính đến cuối năm 2012 chỉ còn lại 131.520 ha[3].

2015-11-07_212551

b) Quy hoạch các hệ sinh thái quan trọng ở Việt Nam

Quy hoạch tổng thể bảo tồn ĐDSH của cả nước đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 (ban hành kèm theo Quyết định số 45/QĐ-TTg ngày 08/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ) (sau đây gọi tắt là Quy hoạch tổng thể) đã quy hoạch các HST tự nhiên, quan trọng trên cả nước như sau:

– Vùng Đông Bắc: Bảo vệ các HST rừng tự nhiên lưu vực sông Hồng, sông Lô, sông Gâm; HST núi đá vôi tại Tuyên Quang, Hà Giang, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Cao Bằng, Quảng Ninh; HST đất ngập nước tại Đầm Hà, Yên Hưng (Quảng Ninh).

– Vùng Tây Bắc: Bảo vệ các HST rừng tự nhiên lưu vực sông Đà, sông Mã; rừng ở các đai cao trên 1.500 m tại Lào Cai, Sơn La.

– Vùng Đồng bằng sông Hồng: – Bảo vệ HST rừng ngập mặn tự nhiên tại Hải Phòng, Thái Bình; các HST đất ngập nước quan trọng tại Ninh Bình, Nam Định.

– Vùng Bắc Trung Bộ: Bảo vệ HST rừng nguyên sinh tại Nghệ An, Hà Tĩnh; rừng tự nhiên lưu vực sông Mã, sông Cả, sông Gianh; rừng ngập mặn ven biển tại Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa; HST núi đá vôi ở Thanh Hoá và Quảng Bình; HST đầm phá Tam Giang – Cầu Hai tại Thừa Thiên Huế.

– Vùng Nam Trung Bộ: Bảo vệ các hệ sinh thái rừng tự nhiên lưu vực sông Cái (tỉnh Phú Yên, Ninh Thuận, Khánh Hòa), sông Côn, sông Đà Rằng, sông Ba, sông Trà Khúc, sông Thu Bồn; HST rừng khộp tại Ninh Sơn (Ninh Thuận), Hoàn Giao (Khánh Hòa); các rạn san hô, thảm cỏ biển tại Cù Lao Chàm, Ninh Hải, vịnh Vĩnh Hy, vịnh Cam Ranh, đầm Thủy Triền, vịnh Vân Phong; HST đất ngập nước khu vực đầm Thị Nại, Trà Ổ, Cù Mông, Ô Loan, Nha Phu.

– Vùng Tây Nguyên: Bảo vệ HST rừng nguyên sinh gồm: rừng trên núi trung bình (Ngọc Linh, Chư Yang Sin), rừng nửa rụng lá (rừng bằng lăng), rừng rụng lá cây họ Dầu (rừng khộp); rừng tự nhiên lưu vực sông Sê San, sông Ba, sông Đồng Nai.

– Vùng Đông Nam Bộ: Bảo vệ HST rừng nguyên sinh; các HST rạn san hô, thảm cỏ biển tại Cà Ná, Côn Đảo; HST đất ngập nước tại đầm Thị Nại, rừng ngập mặn Cần Giờ.

– Vùng Đồng bằng sông Cửu Long: Bảo vệ và phát triển bền vững 30.000 ha HST rừng ngập mặn tự nhiên; HST các rạn san hô, thảm cỏ biển tại Phú Quốc; các HST rừng ngập mặn và HST rừng tràm tại Tràm Chim, U Minh, Trà Sư.

c) Đánh giá thực trạng hệ sinh thái ở Việt Nam

Báo cáo quốc gia về ĐDSH năm 2011 (Bộ Tài nguyên và Môi trường) đã chỉ ra xu hướng suy  thoái của hầu hết các HST tự nhiên, quan trọng do các hoạt động chặt phá rừng, xây dựng các công trình thủy điện, khai thác quá mức tài nguyên và nuôi trồng không đúng cách. Hệ quả của quá trình suy thoái các HST tự nhiên này cũng kéo theo sự mất sinh cảnh của loài, đặc biệt là các loài thú lớn như voi, hổ…, dẫn đến suy giảm cả các loài.

Hiện nay, phần lớn các HST nằm trong các khu bảo tồn được bảo vệ theo quy định của pháp luật. Phần còn lại nằm ngoài khu bảo tồn, đã được chỉ ra trong Quy hoạch tổng thể, chiếm diện tích không nhỏ và cũng đóng vai trò quan trọng trong bảo tồn ĐDSH trên cả nước. Thực tế cho thấy, việc suy thoái HST xảy ra cả trong khu bảo tồn và ngoài khu bảo tồn. Ngoài ra, các HST ngoài khu bảo tồn còn có tính nhậy cảm cao trước những tác động của môi trường nếu không được khoanh vùng bảo vệ.

2.2.2. Hiện trạng thành lập và quản lý khu bảo tồn ở Việt Nam

a) Hiện trạng thành lập các khu bảo tồn ở Việt Nam

Năm 1962, khu bảo tồn (KBT) đầu tiên được thành lập trong hệ thống KBT của Việt Nam có tên gọi là khu “rừng cấm” Cúc Phương. Từ đó đến nay, hệ thống các KBT trên cạn đã được thiết lập và quản lý theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng với 180 khu bao gồm: 30 vườn quốc gia, 58 khu dự trữ thiên nhiên, 16 KBT loài – sinh cảnh, 56 khu bảo vệ cảnh quan và 20 khu rừng nghiên cứu thực nghiệm. Các HST ở vùng ĐNN và vùng biển có giá trị ĐDSH cao đã được Chính phủ quy hoạch thành 45 KBT vùng nước nội địa tại Quyết định số 1479/QĐ-TTg ngày 13/10/2008, 16 KBT biển tại Quyết định số 742/QĐ-TTg ngày 26/5/2010 và 47 KBT ĐNN tại Quyết định số 45/QĐ-TTg ngày 08/01/2014. Tuy nhiên, đến nay chỉ có sáu (06) KBT biển được thành lập với mục tiêu bảo tồn ĐDSH biển. Một số KBT vùng nước nội địa đã được quy hoạch chi tiết nhưng chưa được thành lập. Các KBT ĐNN đã hình thành và nhiều khu tồn tại dưới hình thức là KBT rừng đặc dụng như VQG Xuân Thuỷ, Mũi Cà Mau, U Minh Thượng; KBT thiên nhiên Tiền Hải, Thạnh Phú, Láng Sen. Các KBT trên được thành lập và quản lý theo cả Luật Thuỷ sản và Luật Bảo vệ và Phát triển rừng. Năm 2008, Luật ĐDSH ra đời đã bổ sung thêm hành lang pháp lý quan trọng cho công tác quản lý ĐDSH và KBT của Việt Nam. Đây cũng là văn bản pháp lý cao nhất quy định trực tiếp về phân cấp, phân hạng KBT thống nhất trên toàn quốc.

Căn cứ vào tiêu chí KBT theo quy định của Luật ĐDSH, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng báo cáo Thủ tướng Chính phủ về kết quả rà soát KBT và ban hành danh mục KBT của Việt Nam tại Quyết định số 1107/QĐ-BTNMT ngày 12/5/2015 của Bộ trưởng Bộ TNMT, bao gồm 166 khu được phân hạng như sau: 31 vườn quốc gia, 64 khu dự trữ thiên nhiên, 16 khu bảo tồn loài – sinh cảnh và 55 khu bảo vệ cảnh quan. Trong đó, đề xuất nâng cấp 01 khu dự trữ thiên nhiên Núi Phia Oắc thành Vườn quốc gia Phia Đén – Phia Oắc; nâng cấp 01 KBT loài sinh cảnh Lung Ngọc Hoàng và 02 KBT biển Bạch Long Vĩ và Cù Lao Chàm thành khu dự trữ thiên nhiên.

b) Hiện trạng thể chế, chính sách quản lý khu bảo tồn ở Việt Nam

Hệ thống thể chế chính sách về quản lý KBT ở Việt Nam đang ngày càng được hoàn thiện và góp phần quan trọng trong công tác bảo tồn ĐDSH của Việt Nam như: Quyết định số 1250/QĐ-TTg ngày 31/7/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về ĐDSH đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Quyết định số 218/QĐ-TTg ngày 07/02/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quản lý hệ thống rừng đặc dụng, khu bảo tồn biển, khu bảo tồn vùng nước nội địa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 5/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và nhiều văn bản, Nghị định hướng dẫn Luật có liên quan. Tuy nhiên, quá trình thực thi các chính sách và văn bản này còn gặp nhiều khó khăn, bất cập. Nguyên nhân chủ yếu là sự khác biệt về quy định phân hạng, phân khu chức năng trong khu bảo tồn và các bất cập trong quy định quản lý khu bảo tồn.

Hiện nay, một số KBT đất ngập nước tồn tại trong hệ thống rừng đặc dụng và đang được điều chỉnh bởi cả 03 Luật (Luật Thuỷ sản năm 2003, Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, Luật ĐDSH năm 2008). Mặc dù, vùng nước nội địa là một hợp phần của vùng đất ngập nước (đất ngập nước bao gồm đất ngập nước nội địa và đất ngập nước ven biển) nhưng các quy định về quản lý vùng nước nội địa, vùng đất ngập nước và các KBT của loại hình HST này khác biệt nhau trong Luật Thuỷ sản, Luật ĐDSH và các Nghị định hướng dẫn các Luật này.

Như vậy, cùng một đối tượng là các KBT thuộc các HST trên cạn, đất ngập nước, biển nhưng đều được quản lý bởi các Bộ, ngành khác nhau và văn bản khác nhau, đặc biệt là chưa thống nhất trong loại hình KBT vùng nước nội địa và KBT đất ngập nước, dẫn đến việc thành lập KBT đất ngập nước trên thực tế gặp rất nhiều khó khăn và do vậy, các giá trị ĐDSH tại các vùng đất ngập nước đã và đang có nguy cơ suy thoái rất nhanh.

Qua thực tế nêu trên cho thấy, đến nay các quy định về KBT và quản lý KBT vẫn chưa được thực hiện thống nhất trong các Luật và văn bản hướng dẫn Luật có liên quan.

c) Một số khó khăn, vướng mắc trong quản lý khu bảo tồn

Mặc dù Việt Nam đã có nhiều thành công trong việc quy hoạch, thiết lập và quản lý hệ thống KBT nhằm đẩy mạnh công tác bảo tồn ĐDSH trên cả nước. Tuy nhiên, công tác quản lý KBT hiện nay đang gặp nhiều thách thức:

– Các KBT được phân hạng và quản lý theo loại hình HST khác nhau, nên dẫn tới sự chồng chéo và mâu thuẫn về phân hạng trong hệ thống các KBT, sự không thống nhất về phân khu chức năng và vùng đệm của các KBT. Qua đó, cho thấy việc xây dựng và ban hành các quyết định quản lý, đặc biệt cơ chế, chính sách cho từng kiểu loại KBT là việc không thể thực hiện được, đặc biệt trong điều kiện kinh tế-xã hội Việt Nam.

Về tiêu chí, tiêu chuẩn để xác lập các KBT thiên nhiên thiếu và chưa rõ ràng, khó áp dụng.

Hệ thống các văn bản điều chỉnh các KBT thiếu, chưa đồng bộ và có những quy định chưa rõ ràng, khó khả thi và việc phân công, phân cấp quản lý KBT thiên nhiên còn chia cắt, chưa rõ về quyền hạn, trách nhiệm.

– Việc thành lập các KBT còn nặng về quy mô diện tích mà chưa cân đối được khả năng quản lý, đáp ứng các nguồn lực tương ứng.

 – Tổ chức bộ máy quản lý KBT còn nhiều bất cập, đây là một trong những nguyên nhân chính hạn chế hiệu quả quản lý các KBT hiện nay ở Việt Nam.

– Việc quản lý, vận hành các KBT chưa hoặc ít tiếp cận phương pháp, kỹ thuật bảo tồn hiện đại.

– Nhận thức về tầm quan trọng của các KBT chưa thực sự đầy đủ do thiếu thông tin về giá trị của ĐDSH và dịch vụ HST của KBT.

– Nguồn lực đầu tư cho KBT hạn chế.

2.2.3. Hiện trạng loài tại Việt Nam

a) Nơi cư trú của động vật hoang dã vẫn bị thu hẹp do thay đổi phương thức sử dụng đất và số lượng cá thể các loài quý, hiếm có nguy cơ tuyệt chủng giảm

Trên cạn, các HST rừng tự nhiên, trong đó, các loại rừng giàu, trung bình thường xanh là nơi cư trú của nhiều loài động vật hoang dã do vậy ĐDSH  ở đây cao. Nếu hoạt động chặt phá rừng tự nhiên còn tiếp tục cho các mục đích khác thì nơi cư trú của động vật hoang dã càng bị thu hẹp hoặc mất đi. Hiện tượng quần thể voi rừng hung dữ phá hoại nhà cửa, mùa màng và nghiêm trọng hơn là giết hại dân ở một số địa phương miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên có thể xem là phản ứng tự nhiên của bầy voi hoang dã khi nơi cư trú của chúng đã bị xâm hại và thu hẹp. Hầu hết các loài thú hoang dã khác như hổ chỉ còn thấy dấu vết phân bố ở các khu bảo tồn. Theo một số nguồn thông tin, hiện Việt Nam chỉ còn khoảng 30 cá thể hổ trong tự nhiên.

Tổng số các loại động-thực vật được ghi vào Sách Đỏ Việt Nam 2007 là 882 loài (418 loài động vật và 464 loại thực vật), tăng 161 loài so với  giai đoạn 1992-1996 (Lần xuất bản thứ nhất của các tập Sách Đỏ Việt Nam). Trong giai đoạn này mức độ bị đe dọa của các loài chỉ mới dừng lại ở hạng “nguy cấp-EN”, thì  hiện nay đã có tới 10 loài động vật được xem đã tuyệt chủng ngoài tự nhiên (EW) tại Việt Nam.

Số lượng các loài thuỷ sinh vật, đặc biệt các loài tôm, cá có giá trị kinh tế bị giảm sút nhanh chóng. Số lượng cá thể các loài cá nước ngọt quý hiếm, có giá trị kinh tế, các loài có tập tính di cư bị giảm sút.

Thống kê về hiện trạng các loài động vật nguy cấp, quý hiếm cho thấy nhiều loài đang ở mức báo động, đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng cao do nguyên nhân chính là việc khai thác quá mức và mất môi trường sống, đặc biệt trong đó có nhiều loài đặc hữu như: Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus) ước tính chỉ còn khoảng 190 cá thể. Đầu thế kỷ 20, loài này phân bố ở rừng núi của 4 tỉnh: Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Cạn và Thái Nguyên. Hay loài voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri) chỉ phân bó ở VQG Cúc Phương, khu BTTN Văn Long (Ninh Bình) và hiện chỉ còn khoảng 100 cá thể. Tê giác Java Việt Nam (Rhinoceros sondaicus annamiticus) là một trong hai quần thể tê giác duy nhất còn sót lại trên Trái đất đã được xác nhận bị tuyệt chủng tại Việt Nam vào năm 2010.

b) Các kết quả chính đã đạt được trong công tác bảo vệ các loài hoang dã, loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ của Tổng cục Môi trường:

Bảo tồn loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ là một trong những nhiệm vụ quan trọng đã được quy định trong Luật ĐDSH năm 2008.Để thực hiện quy định của Luật, Tổng cục Môi trường đã triển khai nhiều giải pháp cụ thể như: kiện toàn khung pháp lý, tăng cường giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức, tăng cường hợp tác quốc tế và thu hút sự quan tâm của các Bộ, ngành hữu quan đối với hoạt động bảo tồn các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ. Tổng cục Môi trường đã xây dựng và trình phê duyệt nhiều văn bản quan trọng nhằm tăng cường bảo tồn và quản lý, bảo vệ hiệu quả các loài hoang dã, loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ như Nghị định  số 160/2013/NĐ-CP[4], Chiến lược quốc gia về ĐDSH[5], Quy hoạch tổng thể bảo tồn ĐDSH trên cả nước, Thông tư liên tịch số 160/2014/TTLT-BTC-BTNMT[6]; Góp ý kiến sửa đổi các văn bản luật quan trọng như Nghị định số 179/2013/NĐ-CP[7], Nghị định số 157/2013/NĐ-CP[8], Điều 190 của Bộ Luật hình sự sửa đổi năm 2009; Thực hiện rà soát hệ thống pháp luật hiện hành về quản lý, bảo tồn các loài nguy cấp, quý, hiếm nhằm xác định lộ trình chỉnh sửa và kiện toàn khung pháp lý và chính sách về bảo tồn các loài hoang dã, đặc biệt là loài nguy cấp, quý, hiếm.

Tổng cục Môi trường đã tích cực huy động sự hợp tác, hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật từ các tổ chức quốc tế và các tổ chức bảo tồn trong công tác bảo tồn các loài nguy cấp, quý, hiếm, cụ thể: từ năm 2012-2015, Tổng cục Môi trường đã xây dựng, trình phê duyệt và triển khai thành công dự án “Tăng cường công tác bảo tồn ĐDSH thông qua cải cách chính sách và thay đổi thực trạng tiêu thụ các loài động vật hoang dã ở Việt Nam”. Dự án đã huy động được sự tham gia của nhiều Bộ, ngành, cơ quan đoàn thể và các tổ chức chính trị xã hội, phi chính phủ thông qua việc thành lập diễn đàn hợp tác vì động vật hoang dã (Vietnam- BCA- Wildlife Partnership). Trong khuôn khổ dự án, Tổng cục Môi trường đã phối hợp, hỗ trợ các Bộ, ngành liên quan ban hành nhiều văn bản chỉ đạo nhằm tăng cường bảo tồn các loài hoang dã như Công văn số 79/YDCT-QLHN ngày 31 tháng 3 năm 2015 của Cục Quản lý Y dược, cổ truyền, Bộ Y tế về tăng cường bảo vệ động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm trong y học cổ truyền và Hướng dẫn số 98-HD/BTGTW của Ban tuyên giáo Trung ương về tăng cường công tác tuyên truyền không buôn bán, tiêu thụ bất hợp pháp các loài động vật hoang dã; đồng thời tổ chức nhiều văn bản quy phạm pháp luật trong quản lý các loài nguy cấp đã nêu trên.

Tổng cục Môi trường cũng triển khai nhiều chương trình hội thảo tập huấn, nâng cao kiến thức cho các cán bộ quản lý địa phương, vườn quốc gia, khu BTTN trong công tác quản lý các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ tại 03 miền và các chiến dịch truyền thông giảm tiêu thụ trái phép các loài hoang dã nguy cấp với quy mô lớn nhân các dịp đặc biệt như ngày quốc tế ĐDSH, ngày hội tình nguyện viên quốc tế và các đợt trọng điểm như nghỉ lễ, tết v.v.

Những vướng mắc, tồn tại: Việc khai thác, buôn bán, tiêu thụ động, thực vật hoang dã nguy cấp vẫn diễn ra chưa kiểm soát được.Các loài hoang dã tiếp tục bị suy giảm.Nhiều loài đang đứng trước bờ của sự tuyệt chủng như hổ, voi…Các chương trình bảo tồn loài chưa được quan tâm đúng mức. Một số chương trình đã được phê duyệt nhưng không bảo đảm kinh phí thực hiện. Tại các khu bảo tồn, tình trạng khai thác trái phép các loài hoang dã vẫn diễn ra do mâu thuẫn giữa đói nghèo, phát triển và bảo tồn.Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, phát triển hạ tầng làm chia cắt và thu hẹp sinh cảnh của nhiều loài.

Nguyên nhân: Các nguyên nhân chính gây nên sự suy giảm các loài nguy cấp bao gồm:

– Về mặt quản lý: các chính sách, quy định pháp luật chưa đồng bộ, công tác bảo tồn ĐDSH nói chung và bảo tồn loài nói riêng chưa được quan tâm đúng mức. Vấn đề bảo vệ các loài hoang dã, đặc biệt là các loài nguy cấp, quý, hiếm còn có sự chồng chéo về phân quyền, trách nhiệm quản lý giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Tài nguyên và Môi trường. Chính vì vậy, trong quá trình xây dựng văn bản triển khai Luật ĐDSH còn chưa đạt được sự thống nhất dẫn đến sự chậm ban hành các văn bản hướng dẫn, quản lý, bảo tồn các loài. Bên cạnh đó, vấn đề bảo tồn các loài hiện cũng được quy định rải rác tại nhiều văn bản liên quan đến bảo tồn ĐDSH và quản lý bảo vệ rừng đã gây khó khăn, thiếu hiệu quả trong quá trình quản lý, thực thi pháp luật. Nguồn lực đầu tư cho công tác bảo tồn loài còn rất hạn chế, thiếu sự quan tâm hỗ trợ. Lực lượng tài nguyên môi trường ở địa phương chưa được tăng cường năng lực để triển khai các quy định của Luật ĐDSH.

 – Nhận thức của toàn xã hội đối với công tác bảo tồn loài, bảo tồn ĐDSH còn nhiều hạn chế, một số bộ phận người dân vẫn có thói quen sử dụng các loài ĐVHD nguy cấp dẫn đến nạn săn bắt, buôn bán, tiêu thụ gia tăng và trở thành vấn đề nóng, bức xúc trong xã hội; nhận thức của các cấp, các ngành đã được nâng lên nhưng chưa đủ và chưa quyết liệt nhằm góp phần bảo tồn các loài nguy cấp, quý, hiếm một cách hiệu quả và toàn diện.

c) Các kết quả chính đã đạt được trong công tác quản lý sinh vật ngoại lai xâm hại của Tổng cục Môi trường:

Theo Luật ĐDSH (2008), nội dung kiểm soát các loài ngoại lai xâm hại được quy định tại Mục 3 trong đó gồm các nội dung như: Điều tra và lập Danh mục loài ngoại lai xâm hại; Kiểm soát việc nhập khẩu loài ngoại lai xâm hại, sự xâm nhập từ bên ngoài của loài ngoại lai; Kiểm soát việc nuôi trồng loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại; Kiểm soát sự lây lan, phát triển của loài ngoại lai xâm hại; Công khai thông tin về loài ngoại lai xâm hại.

Thực hiện quy định của Luật ĐDSH, Tổng cục Môi trường đã tiến hành xây dựng và trình ban hành các văn bản chính sách, pháp lý trong lĩnh vực quản lý sinh vật ngoại lai xâm hại như Quyết định số 1896/QĐ-TTg ngày 17 tháng 12 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án ngăn ngừa và kiểm soát sinh vật ngoại lai xâm hại ở Việt Nam đến năm 2020; Thông tư liên tịch số 27/2013/TTLT-BTNMT-BNNPTNT ngày 26 tháng 9 năm 2013 của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định tiêu chí xác định loài ngoại lai xâm hại và ban hành danh mục loài ngoại lai xâm hại; Quyết định số 200/QĐ-BTNMT ngày 20 tháng 01 năm 2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc phê duyệt chương trình truyền thông nâng cao nhận thức về ngăn ngừa và kiểm soát sinh vật ngoại lai xâm hại ở Việt Nam giai đoạn 2015-2020.

Trong giai đoạn 2012-2015, trong khuôn khổ Dự án “Ngăn ngừa và quản lý sinh vật rừng ngoại lai xâm hại ở rừng sản xuất và rừng được bảo vệ khu vực Đông Nam Á”, Tổng cục Môi trường đã xây dựng tài liệu tập huấn, ấn phẩm và phim tài liệu về tuyền truyên, nâng cao nhận thức cũng như tiến hành nhiều hoạt động tập huấn, nâng cao kiến thức cho các cán bộ quản lý địa phương, ban quản lý vườn quốc gia, khu BTTN trong công tác quản lý các loài ngoại lai xâm hại; tiến hành điều tra và xây dựng cơ sở dữ liệu về sinh vật ngoại lai xâm hại tại một số khu bảo tồn, vườn quốc gia trên cả nước; thí điểm diệt trừ loài Trinh nữ móc Mimosa diplotrica tại Vườn quốc gia Cúc Phương.

Những vướng mắc, tồn tại: Luật ĐDSH có nhiều quy định về quản lý sinh vật ngoại lai xâm hại chưa triển khai xây dựng do chưa có sự thống nhất giữa hai Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn như quy định về khảo nghiệm loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại. Một số quy định về đánh giá rủi ro của đối với các loài ngoại lai nhập khẩu, hệ thống phát hiện sớm và phản ứng nhanh các loài ngoại lai xâm hại nhằm hỗ trợ công tác ngăn ngừa và kiểm soát sinh vật ngoại lai xâm hại cũngchưa được đề cập trong Luật ĐDSH.Các hoạt động kiểm soát và diệt trừ một số loài ngoại lai xâm hại nghiêm trọng như cây Mai dương, ốc Bươu vàng, cây Trinh nữ móc… mới được thực hiện rải rác chưa mangtính đồng bộ trên cả nước do thiếu nguồn kinh phí và nhân lực cũng như chưa tìm được giải pháp khoa học công nghệ hữu hiệu áp dụng cho công tác diệt trừ các loài này. Các chương trình ngăn ngừa và kiểm soát sự du nhập các loài ngoại lai xâm hạichưa được xây dựng và thực hiện tại các địa phương trên cả nước.

Nguyên nhân: Nguyên nhân chính của những vướng mắc, tồn tại nêu trên là do hệ thống quy định pháp luật chưa được hoàn thiện, nguồn nhân lực và tài chính hỗ trợ công tác quản lý loài ngoại lai xâm hại từ Trung ương đến địa phương chưa được quan tâm chú trọng, các giải pháp khoa học và công nghệ phục vụ công tác kiểm soát và diệt trừ các loài ngoại lai xâm hại nguy hiểm nhất chưa được chú trọng nghiên cứu, đầu tư.

d) Các kết quả chính đã đạt được trong công tác quản lý an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen của Tổng cục Môi trường:

Trong thời gian qua, công tác quản lý an toàn sinh học (ATSH) đối với sinh vật biến đổi gen đã nhận được sự quan tâm, chỉ đạo của Quốc hội và Chính phủ Việt Nam. Thực hiện quy định của Luật ĐDSH, Tổng cục Môi trường đã tiến hành xây dựng và trình ban hành các văn bản chính sách, pháp lý trong lĩnh vực quản lý an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen như: Nghị định số 69/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ về ATSH đối với sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền và sản phẩm của sinh vật biến đổi gen; Nghị định số 108/2011/NĐ-CP ngày 30 tháng 11 năm 2011 của Chính phủ về sửa đổi một số điều của Nghị định số 69/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ về ATSH đối với sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền và sản phẩm của sinh vật biến đổi gen; Thông tư số 09/2012/TT-BTNMT ngày 22 tháng 8 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định việc cung cấp, trao đổi thông tin và dữ liệu về sinh vật biến đổi gen; Thông tư số 08/2013/TT-BTNMT ngày 16 tháng 5 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định trình tự, thủ tục cấp và thu hồi Giấy chứng nhận ATSH đối với cây trồng biến đổi gen; Thông tư số 13/2013/TT-BTNMT ngày 21 tháng 6 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định quy trình kỹ thuật và định mức kinh tế-kỹ thuật trong phát hiện sinh vật biến đổi gen bằng phương pháp phân tích định tính, định lượng axit deoxyribonucleic.

Với vai trò là Đầu mối quốc gia về thực hiện Nghị định thư Cartagena về an toàn sinh học, Tổng cục Môi trường đã tham mưu cho Bộ Tài nguyên và Môi trường báo cáo Chính phủ về việc gia nhập Nghị định thư bổ sung Nagoya-Kuala Lumpur về Nghĩa vụ pháp lý và bồi thường trong khuôn khổ Nghị định thư Cartagena về an toàn sinh học. Ngày 12 tháng 2 năm 2014, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 10/NQ-CP về việc gia nhập Nghị định thư bổ sung. Việc gia nhập Nghị định thư bổ sung sẽ tạo cho Việt Nam một cơ sở pháp lý quốc tế vững chắc hơn trong việc yêu cầu các tổ chức, cá nhân khi vận chuyển xuyên biên giới sinh vật biến đổi gen qua lãnh thổ Việt Nam nếu để xảy ra thiệt hại phải có trách nhiệm và bồi thường thiệt hại, thông qua đó sẽ hạn chế các rủi ro đến môi trường, ĐDSH và sức khỏe con người.

Thực hiện chức năng được giao, trong thời gian qua, Tổng cục Môi trường cũng đã tiến hành tiếp nhận, thẩm định và cấp Giấy chứng nhận an toàn sinh học đối với cây trồng biến đổi gen: đến nay, Tổng cục Môi trường đã tiếp nhận 05 hồ sơ đăng ký cấp Giấy chứng nhận an toàn sinh học đối với các sự kiện ngô biến đổi gen mang đặc tính kháng sâu hại bộ cánh vảy và chống chịu thuốc trừ cỏ gốc glyphosate. Sau khi tiếp nhận các hồ sơ nêu trên, Tổng cục Môi trường đã triển khai các hoạt động thẩm định theo đúng trình tự quy định tại Thông tư số 08/2013/TT-BTNMT: (i) Thành lập Tổ chuyên gia bao gồm các chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực liên quan; (ii) Thành lập Hội đồng ATSH với các thành viên là đại diện cho các Bộ, ngành liên quan; (iii) Đăng tải báo cáo đánh giá rủi ro của giống ngô biến đổi gen đăng ký trên trang thông tin điện tử về ATSH để lấy ý kiến công chúng; (iv) Tổ chức các phiên họp thẩm định hồ sơ của Tổ chuyên gia và Hội đồng ATSH. Việc đánh giá các hồ sơ đăng ký cấp Giấy chứng nhận ATSH kỹ lưỡng, khoa học của Hội đồng ATSH và Tổ chuyên gia, những người có chuyên môn, kinh nghiệm trong các lĩnh vực có liên quan. Đến nay, Tổng cục Môi trường đã thẩm định xong 04 hồ sơ và trình Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp Giấy chứng nhận ATSH cho 04 sự kiện ngô biến đổi gen: MON89034 (Quyết định số 1836/QĐ-BTNMT ngày 27 tháng 8 năm 2014), NK603 (Quyết định số 2486/QĐ-BTNMT ngày 03 tháng 11 năm 2014); GA21 (Quyết định số 2485/QĐ-BTNMT ngày 03 tháng 11 năm 2014); Bt11 (Quyết định số 70/QĐ-BTNMT ngày 14 tháng 01 năm 2015). Có thể nói, việc thẩm định các hồ sơ nêu trên đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện bài bản, khoa học, theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ATSH đối với sinh vật biến đổi gen và quy trình thẩm định này cũng dựa theo kinh nghiệm và các chuẩn mực về đánh giá hồ sơ và chứng nhận ATSH đã được tiến hành trên thế giới.

Tiến hành các hoạt động tăng cường năng lực, nâng cao nhận thức về sinh vật biến đổi gen và công khai thông tin về sinh vật biến đổi gen đối với môi trường, ĐDSH, sức khỏe con người và vật nuôi: Từ năm 2006, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng và vận hành Cổng thông tin điện tử về ATSH tại địa chỉ: www.antoansinhhoc.vn. Cổng thông tin là địa chỉ tra cứu hữu ích cho doanh nghiệp, công chúng quan tâm về các thông tin liên quan đến ATSH đối với sinh vật biến đổi gen trong nước và quốc tế cũng như là công cụ để nâng cao nhận thức của cộng đồng về công nghệ chuyển gen. Phối hợp với các cơ quan truyền thông xây dựng các phóng sự, phim tài liệu về việc quản lý ATSH đối với sinh vật biến đổi gen; in ấn và phát hành các ấn phẩm có nội dung liên quan đến vấn đề ATSH đối với sinh vật biến đổi gen; Phối hợp với các tổ chức trong nước và quốc tế tổ chức các hội thảo, tập huấn, đào tạo nhằm tăng cường năng lực cho các cán bộ quản lý, nhà nghiên cứu và nâng cao nhận thức của cộng đồng về sinh vật biến đổi gen.

2.2.3. Hiện trạng nguồn gen

Việt Nam được xếp hạng thứ 16 trên thế giới về đa dạng tài nguyên sinh vật và là một trong 10 trung tâm ĐDSH phong phú nhất thế giới[9] với nhiều kiểu HST, các loài sinh vật, nguồn gen phong phú và đặc hữu.

Tuy nhiên, sự đa dạng trên đang bị đe dọa nghiêm trọng do việc khai thác bừa bãi thiếu ý thức, thiên tai, thói quen canh tác lạc hậu, gia tăng dân số và đô thị hóa. Đặc biệt, hiện tượng biến đổi khí hậu, nước biển dâng đã đe dọa tới tài nguyên di truyền. Thực tế cho thấy, hiện nay có một số giống đang còn rất ít như lợn Ỉ, lợn Ba Xuyên, gà Hồ… Một trong những nguyên nhân gây suy giảm nguồn gen tại Việt Nam là do giá trị về nguồn gen chưa được nhận thức đầy đủ. Đặc biệt tại khu vực miền núi và ven biển, nơi sở hữu nguồn gen phong phú và quý hiếm nhưng do trình độ dân trí còn hạn chế nên người dân chưa nhận thức đầy đủ giá trị nguồn tài nguyên đang nắm giữ. Trong khi đó, các tổ chức, cá nhân khai thác nguồn gen không ý thức được trách nhiệm phải chia sẻ lợi ích với bên cung cấp tài nguyên, khiến cho quyền lợi của cộng đồng không được đảm bảo. Hơn nữa, một nguyên nhân khác dẫn tới sự suy giảm nguồn gen là do hiện nay Việt Nam chưa kiểm soát được hoạt động khai thác nguồn gen của các tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành thông qua hợp tác nghiên cứu khoa học, liên doanh, sưu tầm, du lịch…

Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn gen, từ năm 2011 đến 2013, Tổng cục Môi trường đã phối hợp với các cơ quan có liên quan nghiên cứu các nội dung và điều khoản quy định của Nghị định thư Nagoya về tiếp cận nguồn gen, chia sẻ công bằng và hợp lý lợi ích từ việc sử dụng nguồn gen theo Công ước ĐDSH (gọi tắt là Nghị định thư Nagoya về ABS) và tham mưu cho Bộ Tài nguyên và Môi trường trình Chính phủ xem xét, gia nhập Nghị định thư. Ngày 17 tháng 3 năm 2014, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 17/NQ-CP về việc gia nhập Nghị định thư Nagoya về ABS. Ngày 23 tháng 4 năm 2014, Việt Nam chính thức gia nhập và trở thành thành viên thứ 31 của Nghị định thư Nagoya về ABS. Việc gia nhập Nghị định thư Nagoya về ABS sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam trong một số hoạt động, như (i) tạo lập cơ sở pháp lý vững chắc trong bảo vệ quyền và lợi ích công bằng của bên cung cấp nguồn gen và tri thức truyền thống về nguồn gen ở Việt Nam; (ii) góp phần thực hiện nghĩa vụ đối với các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đặc biệt là Công ước ĐDSH và Tuyên bố Rio về Phát triển bền vững; (iii) tạo cơ hội để Việt Nam tiếp cận các nguồn lực quốc tế trong hỗ trợ xây dựng năng lực về vấn đề này; (iv) nâng cao nhận thức về quản lý nguồn gen, thúc đẩy các hoạt động ứng dụng nguồn gen, tri thức truyền thống về nguồn gen, góp phần nâng cao đời sống của cộng đồng dân cư và bảo tồn ĐDSH.

Sau khi gia nhập Nghị định thư, thực hiện các nội dung được Chính phủ giao tại Nghị quyết số 17/NQ-CP, Tổng cục Môi trường đã tiến hành các hoạt động như sau:

– Rà soát, đánh giá về hợp tác với các tổ chức, cá nhân nước ngoài trong việc tiếp cận nguồn gen  giai đoạn 2000 – 2013;

– Xây dựng dự thảo Đề án ”Tăng cường năng lực về quản lý tiếp cận nguồn gen và chia sẻ công bằng, hợp lý lợi ích phát sinh từ việc sử dụng nguồn gen” và trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt;

– Xây dựng Nghị định về quản lý tiếp cận nguồn gen và chia sẻ công bằng, hợp lý lợi ích phát sinh từ việc sử dụng nguồn gen trình Chính phủ xem xét, ban hành.

III. CÁC VẤN ĐỀ ƯU TIÊN TRONG QUẢN LÝ ĐA DẠNG SINH HỌC TẠI VIỆT NAM

3.1. Củng cố hệ thống chính sách và pháp luật về đa dạng sinh học:

Phạm vi nội dung quản lý nhà nước về ĐDSH hiện đang được điều chỉnh, quy định bởi ít nhất 04 luật: Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, 2004 và Luật Thủy sản, 2003 (do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì triển khai) và Luật Bảo vệ Môi trường, 2005 và 2013 và Luật ĐDSH 2008 (do Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì triển khai). Xét từ cách tiếp cận quản lý các HST, hệ thống luật này cơ bản là các HST hiện có ở Việt Nam như rừng (trên cạn và ngập mặn), biển và đất ngập nước (nội địa). Việc phân chia các HST có tính tương đối như trên, và được chế tài bởi luật tương ứng, chủ yếu phục vụ mục đích quản lý sử dụng hơn là bảo tồn. Vì thế, Luật ĐDSH ra đời đã hướng công tác quản lý tài nguyên này theo hướng tổng hợp và toàn diện hơn, không quản lý theo hình thức chia cắt  các thành phần ĐDSH. Trong khi đó, Luật Bảo vệ Môi trường 2005 và 2013 tiếp tục cung cấp các nguyên tắc và chế tài cần thiết cho việc phòng ngừa và giảm thiểu tác động của phát triển lên ĐDSH.

Luật Thủy sản được Quốc hội thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003 (số 17/2003/QH11) và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2004. Luật này quy định 02 hệ thống các khu bảo tồn vùng nước thủy nội địa và khu bảo tồn biển với các mức phân hạng: vườn quốc gia; khu bảo tồn loài và sinh cảnh; và khu dự trữ tài nguyên thiên nhiên thủy sinh.

 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng được Quốc hội thông qua ngày 14 tháng 12 năm 2004 (số 29/2004/QH11) và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 4 năm 2005. Đây là văn bản rất quan trọng đối với công tác bảo vệ HST rừng, một trong các HST có diện tích lớn nhất, giầu ĐDSH và có nhiều giá trị quan trọng đối với đời sống đất nước và con người Việt Nam. Luật Bảo vệ và Phát triển rừng đã quy định Hệ thống rừng đặc dụng được sử dụng chủ yếu để BTTN, mẫu chuẩn HST rừng của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng; nghiên cứu khoa học; bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi, du lịch, kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường, bao gồm: (i) Vườn quốc gia; (ii) Khu BTTN gồm khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài – sinh cảnh; (iii) Khu bảo vệ cảnh quan gồm khu rừng di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh; (iv) Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học.

Luật ĐDSH được Quốc hội thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008 (số 20/2008/QH12) và có hiệu lực ngày 01 tháng 7 năm 2009. Theo luật này, bảo tồn ĐDSH được hiểu là (i) là việc bảo vệ sự phong phú của các HST tự nhiên quan trọng, đặc thù hoặc đại diện; (ii) bảo vệ sinh cảnh tự nhiên thường xuyên hoặc theo mùa của loài hoang dã, cảnh quan môi trường, nét đẹp độc đáo của thiên nhiên; và, (iii) nuôi, trồng, chăm sóc loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ. Luật ĐDSH phân chia khu BTTN theo 5 loại HST: (i) rừng, (ii) biển, (iii) đất ngập nước, (iv) núi đá vôi, và (v) đất chưa sử dụng (Điều 34). Theo luật này, các khu bảo tồn được phân thành 4 loại: (i) Vườn Quốc gia; (ii) khu BTTN; (iii) khu bảo tồn loài và sinh cảnh; và, (iv) Khu bảo vệ cảnh quan. Luật đồng thời quy định “vùng đệm” là vùng bao quanh, tiếp giáp khu bảo tồn, có tác dụng ngăn chặn, giảm nhẹ tác động tiêu cực từ bên ngoài đối với khu bảo tồn.

Bị chi phối bởi nhiều luật khác nhau, vì thế hiểu và thực hành đúng yêu cầu quản lý nhà nước thống nhất về ĐDSH là một thách thức vì có quá nhiều quy định và chính sách hiện cùng được áp dụng, thậm chí trong số đó có các quy định trùng lặp, chồng chéo thậm chí mâu thuẫn. Tình trạng này gây khó khăn cho các bên liên quan có nghĩa vụ chấp hành, tuân thủ thực thi pháp luật, nhất là các cơ sở bảo tồn, khi họ đang phải đối mặt với những hạn chế, thiếu hụt về năng lực, con người và cố vấn/chỉ dẫn. Đây là nút thắt đòi hỏi các cơ quan soạn thảo và ban hành chính sách phải hợp tác, điều phối, lồng ghép chặt chẽ hơn để nhất thể hóa, đồng bộ hóa các quy chế về quản lý ĐDSH. Dẫn chứng trong giai đoạn 2010-2013, kể từ khi Luật ĐDSH có hiệu lực, Chính phủ đã ban hành 10 Nghị định của Chính phủ, 12 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và 23 Thông tư của Bộ trưởng đã được ban hành, thể chế hóa các chiến lược, quy hoạch, cơ chế về bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH Việt Nam.

Một số chiến lược, chính sách quan trọng như sau:

– Chiến lược quốc gia về ĐDSH đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (theo Quyết định 1250/QĐ-TTg ngày 31/7/2013 của Thủ tướng Chính phủ)

– Quy hoạch tổng thể bảo tồn ĐDSH của cả nước đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 (theo Quyết định 45/QĐ-TTg ngày 08/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ)

– Chiến lược quản lý hệ thống rừng đặc dụng, khu bảo tồn biển, khu bảo tồn vùng nước nội địa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (theo Quyết định 218/QĐ-TTg ngày 07/02/2014 của Thủ tướng Chính phủ)

– Quy hoạch hệ thống rừng đặc dụng cả nước đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (theo Quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày 30/10/2014 của Thủ tướng Chính phủ)

Theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật “Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn” (Điều 83.2); “Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành mà có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản được ban hành sau” (Điều 83.3). Theo vậy, có thể hiểu khi Luật ĐDSH được ban hành sẽ có những điều khoản áp dụng “thay thế” các điều khoản liên quan của các Luật Thuỷ sản, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng nếu xét về mục đích bảo tồn ĐDSH.

Ngoài ra, về bản chất, HST tự nhiên là không thể chia cắt. Do vậy, việc phân chia ra các đối tượng trong HST để quản lý là không phù hợp cho mục đích bảo tồn ĐDSH. Do vậy, việc tiếp cận để bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam cần theo hướng tổng thể như trong Luật ĐDSH.

Hiện nay, đối tượng quản lý của Luật ĐDSH là khu bảo tồn. Tuy nhiên, trên thực tế cho đến thời điểm này, Luật ĐDSH chưa có đối tượng cụ thể để quản lý vì chính các đối tượng này đã được điều chỉnh bởi Luật Thuỷ sản và Luật Bảo vệ và Phát triển rừng trong thời gian qua.

Do đó, để bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH trong giai đoạn tiếp theo cần thiết phải thực hiện một số nội dung như sau:

– Rà soát đồng bộ, chỉnh sửa, bổ sung Luật và các Luật có liên quan đến ĐDSH: Luật ĐDSH, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Thủy sản theo hướng thống nhất quản lý về ĐDSH.

– Tiếp tục hoàn thiện, thống nhất các văn bản dưới luật hướng dẫn về ĐDSH.

– Thống nhất hệ thống khu bảo tồn trên toàn quốc và phân cấp, phân loại khu bảo tồn phục vụ quản lý hiệu quả các khu vực có giá trị ĐDSH cao ở Việt Nam

3.2. Tăng cường hệ thống tổ chức quản lý, phân công, phân cấp:

Quy định của Luật ĐDSH 2008 là “Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về ĐDSH” (Điều 6 khoản 2) đảm bảo tính hợp pháp, đúng thẩm quyền, phù hợp với quy định của Luật Tổ chức Chính phủ. Điều này cũng phù hợp các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường tại Nghị định số 21/2013/NĐ-CP, theo đó, trong lĩnh vực môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường được Chính phủ giao nhiệm vụ, quyền hạn “Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về BTTN và ĐDSH trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật”.

Quy định trên của Luật ĐDSH 2008 cũng đáp ứng tiêu chí phù hợp với tính đặc thù ĐDSH, đó là bao quát tất cả các HST tự nhiên, các loài và nguồn gen sinh vật mà không phân chia và phụ thuộc vào tính chất, loại hình của từng HST. Ngoài ra, cơ chế phối hợp đa ngành, liên ngành cũng thể hiện rất rõ trong các quy định của Luật ĐDSH 2008. Đây cũng là cách tiếp cận của Công ước ĐDSH đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận.

Tuy nhiên, sự phân công trách nhiệm quản lý nhà nước đối với ĐDSH theo Luật ĐDSH 2008 lại chưa đáp ứng được các tiêu chí rõ ràng, cụ thể và khả thi. Do quy định “Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về ĐDSH theo phân công của Chính phủ” (Điều 6 khoản 3), nên trách nhiệm của các bộ, ngành khác vẫn đang trong “chế độ chờ” sự phân công của Chính phủ.

Ngược lại, các quy định về trách nhiệm của các bộ, ngành trong quản lý nhà nước đối với ĐDSH tại các Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004, Luật Thủy sản 2003 đã đáp ứng tốt các tiêu chí hợp pháp, đúng thẩm quyền, rõ ràng, cụ thể nhưng lại chưa đáp ứng được tiêu chí phù hợp với đặc thù của ĐDSH. Lí do là vì kể từ trước khi Luật ĐDSH 2008 được ban hành, cách tiếp cận phân công chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các bộ, ngành chủ yếu dựa trên cơ sở chia các HST tự nhiên, các bộ phận của ĐDSH thành: rừng, biển, đất ngập nước… để quản lý, trong khi như trên đã phân tích bản thân các yếu tố trên là một chỉnh thể thống nhất, có độ tương tác rất cao và không dễ dàng phân biệt rạch ròi giữa chúng.

Do đó, cần tăng cường hệ thống tổ chức quản lý, phân công, phân cấp quản lý nhà nước về ĐDSH thông qua các nội dung sau:

– Từng bước thống nhất cơ quan và phân cấp, quy định rõ về nội dung và trách nhiệm quản lý nhà nước về ĐDSH.

– Tăng cường tổ chức, triển khai thực hiện quản lý ĐDSH ở cấp tỉnh, đây mạnh vai trò và trách nhiệm quản lý ĐDSH ở địa phương.

– Tăng cường lực lượng thực thi pháp luật về ĐDSH.

3.3. Tăng tính hiệu quả của thực thi pháp luật:

Luật ĐDSH có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2009 nhưng đến ngày 14 tháng 11 năm 2013, Chính phủ mới ban hành Nghị định số 179/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, trong đó có các quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo tồn ĐDSH. Tuy nhiên vì được ban hành chung trong lĩnh vực về bảo vệ môi trường nên một số trường hợp việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực ĐDSH xuất hiện nhiều bất cập và khó khăn. Chính vì vậy, các hành vi vi phạm liên quan đến bảo tồn ĐDSH trong các lĩnh vực cụ thể hiện nay đều vẫn xử lý theo các luật và văn bản chuyên ngành. Ví dụ: các vi phạm về ĐDSH rừng xử lý theo Nghị định số 99/2009/NĐ-CP ngày 02/11/2009 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; một số vi phạm có thể xử lý theo Nghị định số 128/2005/NĐ-CP ngày 11/10/2005 của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản….

Nhiều trách nhiệm hành chính liên quan đến các nội dung cụ thể trong bảo tồn ĐDSH vẫn chưa cụ thể trong các văn bản hiện hành.

Về trách nhiệm hình sự, Luật số 37/2009/QH12 ngày 29/06/2009 của Quốc hội sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ Luật Hình sự quy định về các tội danh liên quan tới bảo tồn ĐDSH ở các điều từ 182 đến 191. Tuy nhiên, do quy định hướng dẫn chậm được ban hành nên một số tội danh vẫn còn trong giai đoạn “chờ” mới đủ cơ sở để xử lý. Việc thanh tra và xử lý vi phạm về ĐDSH thực sự chưa có những bước phát triển rõ rệt. Số vụ vi phạm ĐDSH vẫn còn nhiều và các mức hình phạt chưa đủ sức răn đe khiến khả năng tái phạm rất lớn.

Do đó, để có thể bảo tồn ĐDSH tốt hơn trong giai đoạn tới, đề xuất:

Thực hiện nghiêm các chế tài xử lý vi phạm pháp luật về ĐDSH.

Công khai các thông tin về các vụ vi phạm ĐDSH.

Tăng cường giám sát thực thi pháp luật, bao gồm cả việc giám sát của cộng đồng.

– Thực hiện các sáng kiến về chính sách và cơ chế khuyến khích thay đổi hành vi (đối với cán bộ quản lý và cộng đồng).

3.4. Tăng cường nguồn lực tài chính cho đa dạng sinh học:

Theo số liệu thống kê, vốn đầu tư cho công tác BVMT (trong đó có công tác bảo tồn ĐDSH) từ ngân sách Nhà nước trong thời gian qua tăng lên đáng kể. Trong giai đoạn trước năm 2005, tổng chi ngân sách cho sự nghiệp môi trường chỉ khoảng 150-200 tỷ đồng/năm, nhưng tính đến giai đoạn hiện nay, con số này đã tăng lên nhiều lần. Theo số liệu của Bộ Tài chính năm 2009, tổng chi ngân sách nhà nước cho công tác BVMT khoảng 5.264 tỷ đồng, trong đó chi ngân sách Trung ương khoảng 850 tỷ đồng, chi ngân sách địa phương là 4.414 tỷ đồng. Đến năm 2010, con số này là 6.590 tỷ đồng (Trung ương: 980 tỷ đồng; địa phương: 5.610 tỷ đồng).

Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy nguồn chi thường xuyên của ngân sách Nhà nước do hoạt động bảo vệ môi trường còn ít, chưa đáp ứng yêu cầu thực tế. Chi cho sự nghiệp môi trường ở Việt Nam mới đạt 1% tổng ngân sách từ năm 2006 và duy trì tỷ lệ này cho đến nay. Tuy nhiên, so với GDP, tỉ lệ chi ngân sách cho môi trường năm 2010 chỉ đạt xấp xỉ 0,4% GDP. Trong khi đó, ở Trung Quốc và các nước ASEAN đầu tư cho môi trường trung bình hàng năm chiếm khoảng 1% GDP, ở các nước phát triển thường chiếm 2-3% GDP. So bình quân đầu người, tỉ lệ chi cho môi trường từ nguồn ngân sách chỉ đạt 4,5 USD/người năm 2010. Tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với mức trung bình của các nước trên thế giới (khoảng 5% so với mức trung bình). Bên cạnh đó, qua giám sát cho thấy, việc sử dụng nguồn kinh phí 1% ngân sách cho sự nghiệp môi trường còn dàn trải, kém hiệu quả; có một số địa phương còn sử dụng kinh phí này vào mục đích khác. Hầu hết nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường của địa phương được sử dụng cho thu gom chất thải đô thị, nên các nội dung chi khác bị hạn chế đáng kể, không đạt được hiệu quả mong muốn. Do tính chất là nguồn chi thường xuyên nên kinh phí từ nguồn này không thể bố trí để đầu tư giải quyết triệt để các vấn đề môi trường bức xúc đang ngày càng gia tăng, trong đó có cả các vấn đề bức xúc trong bảo tồn ĐDSH. Việc phân bổ, thực hiện nguồn chi ở nhiều địa phương chưa có sự tham gia của cơ quan chuyên môn (Sở TN&MT), chưa có sự giám sát chặt chẽ của Hội đồng nhân dân các cấp. Cơ chế sử dụng các nguồn thu từ phí BVMT, tiền phạt, tài trợ ODA, tài trợ phi chính phủ cho BVMT chưa rõ ràng; thiếu sự điều hòa, phối hợp.

Từ nguồn ngân sách cho sự nghiệp BVMT nói chung cho thấy kinh phí chi cho hoạt động bảo tồn ĐDSH còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế công tác quản lý lĩnh vực này. Tại Bộ Tài nguyên và Môi trường, đầu tư cho quản lý bảo tồn chiếm chưa đến 10% ngân sách chi cho bảo vệ môi trường. Tại các bộ, ngành, địa phương, tình trạng cũng tương tự.

Đối với các Khu bảo tồn, ngân sách đầu tư cho các Vườn quốc gia (06 VQG) trực thuộc khoảng 3,5 triệu USD/năm, còn đối với các Vườn quốc gia trực thuộc tỉnh (khoảng 24 khu) là 5 triệu USD/năm. Tuy nhiên, các khoản kinh phí đầu tư này cũng chỉ tập trung cho xây dựng cơ bản như làm đường, xây dụng nhà cửa, trụ sở làm việc trong khu bảo tồn, kinh phí đầu tư cho các công trình bảo tồn ĐDSH là rất nhỏ.

Đối với nguồn từ các tổ chức quốc tế: Giai đoạn 2006 – 2010, Việt Nam đã thu hút 41 dự án hợp tác quốc tế về môi trường và biến đổi khí hậu, với tổng kinh phí 223.643.207 USD (trong đó, nguồn ODA là 190.038.704 USD và đối ứng là 33.604.503 USD) và 19 dự án chuyển tiếp với tổng kinh phí 33.116.170 USD (nguồn ODA là 32.259.665 USD và đối ứng là 856.505 USD). Chỉ riêng trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và sinh thái biển, vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA) đã ký kết trong giai đoạn 2000 – 2007 theo thống kê là khoảng 70,24 triệu USD, trong đó 31,8 triệu USD là vốn vay ưu đãi, 38,44 triệu USD là vốn viện trợ không hoàn lại.

Hàng năm, Quỹ môi trường toàn cầu (GEF) cũng đầu tư một phần kinh phí không nhỏ cho hoạt động BVMT của Việt Nam. Tổng kinh phí đầu tư từ năm 2005 đến hết 2009 của GEF cho các dự án cấp quốc gia tại Việt Nam đạt khoảng 80 triệu USD, trong đó, tỷ trọng vốn đầu tư của GEF cho các dự án trong lĩnh vực ô nhiễm chất hữu cơ, ĐDSH và BĐKH là khá lớn (trên 92%), qua đó, có thể dễ dàng nhận thấy sự quan tâm của cộng đồng quốc tế đến các vấn đề này của Việt Nam ngày càng tăng.

Có thể thấy, việc tăng đầu tư tài chính cho bảo tồn ĐDSH tại Việt Nam là hết sức cần thiết, do đó đề xuất một số ý kiến để tăng cường tài chính thực hiện như sau:

– Cần xác định việc đầu tư nhà nước cho công tác bảo tồn ĐDSH là đầu tư cho xã hội và phát triển bền vững, do đó cần xác định tỉ lệ chi ngân sách cho các hoạt động bảo tồn ĐDSH trong % GDP và là dòng ngân sách riêng không phụ thuộc vào dòng chi chung cho môi trường. Bên cạnh đó cũng cần xác định các hạng mục đầu tư bắt buộc hàng năm cho công tác bảo tồn ĐDSH.

– Áp dụng cơ chế tài chính cho bảo tồn ĐDSH: cần xác định cơ chế tập trung hay phân cấp trong nguồn ngân sách nhà nước.

– Áp dụng các sáng kiến tài chính mới cho bảo tồn:

+ Xem xét khả năng đề nghị Quốc hội ban hành Chương trình mục tiêu quốc gia về ĐDSH – bảo tồn các loài nguy cấp quý hiếm được không;

+ Phát triển cơ chế bồi hoàn đa dạng sinh học;

+ Xây dựng và phát triển các Quỹ ủy thác bảo tồn ĐDSH và chi trả dịch vụ HST;

+ Huy động sự đầu tư của các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế cho công tác bảo tồn ĐDSH.

3.5. Nâng cao nhận thức và xã hội hóa công tác bảo tồn đa dạng sinh học:

Việc huy động sự tham gia của cộng đồng vào công tác bảo tồn ĐDSH là một trong những nội dung quan trọng để công cuộc bảo tồn đạt hiệu quả. Đây là một công việc có tính xã hội hoá, là nhiệm vụ của toàn dân, của cộng đồng cư dân vùng đệm của Vườn quốc gia, khu bảo tồn. Nếu không có sự hỗ trợ và tham gia của người dân sống trong vùng đệm thì công tác bảo vệ các các giá trị của Vườn quốc gia, khu bảo tồn, những nơi có giá trị ĐDSH cao sẽ không thể đạt kết quả tốt. Do đó, việc tuyên truyền nâng cao nhận thức cũng như tạo điều kiện thuận lợi và nâng cao chất lượng cuộc sống cộng đồng dân cư vùng đệm là yếu tố then chốt để đảm bảo thành công trong công tác bảo tồn các Vườn quốc gia, khu bảo tồn. Hiện nay, nhà nước đã ban hành một số văn bản về việc phối hợp giữa các Ban quản lý Khu Bảo tồn với chính quyền địa phương của chính vùng đệm để nâng cao đời sống của nhân dân và lôi cuốn họ tham gia vào công tác bảo vệ rừng. Bên cạnh đó cộng đồng là những nhóm người có những đặc điểm về thái độ, cách ứng xử, tập quán sinh hoạt và ước muốn tương đối giống nhau, kể cả những tổ chức xã hội do cộng đồng lập ra cùng sống trong bối cảnh tự nhiên, kinh tế, xã hội. Ở nhiều dân tộc thiểu số, Già làng, Trưởng bản là những người giàu kinh nghiệm, nắm giữ phong tục tập quán của cộng đồng mình, đồng thời cũng là trung tâm của các cuộc hoà giải, những tranh chấp, xung đột, được cộng đồng tôn sùng nên hoàn toàn có thể đại diện cho cộng đồng. Hầu hết cộng đồng dân cư trong vùng đệm đặc biết là một số đồng bào các dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu vùng xa chưa có nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng cũng như sự cần thiết để bảo tồn các giá trị của khu Vườn quốc gia, khu bảo tồn do vậy, tài nguyên sinh vật, đặc biệt là tài nguyên trong vùng đệm bị suy giảm nhanh đã đe doạ trực tiếp đến kế sinh nhai của chính bản thân họ. Việc đào tạo cán bộ khoa học trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ tài nguyên sinh vật cũng như giáo dục nâng cao nhận thức về BTTN và bảo vệ môi trường cũng đã bước đầu được quan tâm. Trong những năm qua, công tác giáo dục nâng cao nhận thức cùng các hoạt động bảo tồn ĐDSH đã đạt được những kết quả và tiến bộ nhất định. Các tổ chức đoàn thể như Đoàn thanh niên, Đội thiếu niên, Hội liên hiệp phụ nữ, Hội Nông dân ở các xã vùng đệm cũng đã hưởng ứng và tham gia nhiệt tình vào trong công tác bảo tồn các giá trị về ĐDSH.

Sự tham gia của cộng đồng đối với công tác bảo tồn ĐDSH là hết sức quan trọng, trong thời gian tới đây, Việt Nam cần tiếp tục thực hiện các chương trình, đề án về tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân bản địa, cộng đồng tại vùng đệm về giá trị của ĐDSH ngoài ra cũng cần thực hiện các nội dung sau để đảm bảo việc phát triển bền vững:

– Xác lập hệ thống quản trị bảo tồn và chia sẻ lợi ích đa bên cấp cơ sở.

– Hướng dẫn tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích.

– Quyền cộng đồng trong bảo tồn ĐDSH.

– Mô hình bảo tồn mới: vai trò của tổ chức xã hội và cộng đồng.

– Thể chế hóa giáo dục về bảo tồn ĐDSH trong hệ thống giáo dục phổ thông.

– Tăng cường tuyên truyền, giáo dục pháp luật, phổ biến các vi phạm và hình phạt áp dụng trên các phương tiện thông tin đại chúng để răn đe, phòng ngừa.

 TÀI LIỆU THAM KHẢO

[01]. Bộ Tài nguyên và Môi trường. Báo cáo quốc gia về thực hiện Công ước ĐDSH của Việt Nam lần thứ 4, 2008.

[02]. Cơ sở sinh học bảo tồn (tài liệu dịch của R.B. Primack). NXB Khoa học và Kỹ thuật, 2000.

[03]. Chiến lược quốc gia về ĐDSH đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, 2013

[04]. Chỉ số lợi ích ĐDSH của Quỹ Môi trường toàn cầu GEF, Chỉ số Mundi, 2008.

[05]. Cục Bảo tồn ĐDSH. Bản tóm lược chính sách về kiểm soát buôn bán, tiêu thụ động vật hoang dã tại Việt Nam. Dự án WLC, 2015.

[06]. Cục Bảo tồn ĐDSH. Phân tích các mô hình quản lý ĐDSH áp dụng tại một số quốc gia trên thế giới. Dự án PA, 2014.

[07]. Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam. Báo cáo tổng kết Đề án tư vấn phản biện xã hội về Đánh giá việc thực hiện Luật ĐDSH 2008 và đề xuất điều chỉnh và sửa đổi, 2013.

[08]. Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam. Báo cáo tổng kết đề án Kiện toàn hệ thống tổ chức QLNN về ĐDSH và ATSH, 2010.

[09]. Đặng Huy Huỳnh và Nguyễn Ngọc Sinh. Tham luận tại Hội thảo “Bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp” do Ủy ban KH,CN&MT của Quốc Hội, Bộ Tài nguyên và Môi trường và UNDP tổ chức, tháng 11/2014.

[10]. Luật Bảo vệ môi trường 2005.

[11]. Luật Bảo vệ môi trường 2014 và các văn bản dưới luật kèm theo.

[12]. Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004 và các văn bản dưới luật kèm theo.

[13]. Luật ĐDSH 2008 và các văn bản dưới luật kèm theo.

[14]. Nghị định số 65/2010/NĐ-CP ngày 11/6/2010 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật ĐDSH.

[15]. Luật Thủy sản 2003 và các văn bản dưới luật đi kèm.

[16]. Quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày 30/10/2014 của Thủ tướng Chính phủ về Quy hoạch hệ thống rừng đặc dụng cả nước đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

[17]. Quyết định số 1250/QĐ-TTg ngày 31/7/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về ĐDSH đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

[18]. Quyết định số 45/QĐ-TTg ngày 08/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể bảo tồn ĐDSH của cả nước đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.

[19]. Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 của Ban chấp hành TƯ Đảng về Chủ động ứng phó với BĐKH.

[20]. Nghị định số 21/2013/NĐ-CP ngày 04/3/2013 của Chính phủ về quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ TN-MT.

[21]. Quyết định số 742/QĐ-TTg ngày 26/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch hệ thống KBT biển Việt Nam đến năm 2020.

[22]. Quyết định 218/QĐ-TTg ngày 07/02/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quản lý hệ thống rừng đặc dụng, khu bảo tồn biển, khu bảo tồn vùng nước nội địa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

[23]. Quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày 30/10/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch hệ thống rừng đặc dụng cả nước đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

[24]. Nghị định số 117/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 của Chính phủ về tổ chức và quản lý hệ thống rừng đặc dụng

[25]. Nghị định số 199/2013/NĐ-CP ngày 26 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ về quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Bộ NN-PTNT.

[26]. Nghị định sô 160/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ về quy định tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ

[27]. Quyết định số 1896/2012/QĐ-TTg ngày 17 tháng 12 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án ngăn ngừa và kiểm soát sinh vật ngoại lai xâm hại ở Việt Nam đến 2020

[28]. Thông tư liên tịch số 27/2013/TTLT-BTNMT-BNNPTNT ngày 26 tháng 9 năm 2013 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ NN-PTNT quy định tiêu chí xác định loài ngoại lai xâm hại và ban hành danh mục loài ngoại lai xâm hại

[29]. Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ về quản lý động vật rừng, thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm

[30]. Thông tư liên tịch số 160/2014/TTLT-BTC-BTNMT ngày 29 tháng 10 năm 2014 của Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc Hướng dẫn quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước thực hiện các nhiệm vụ, dự án theo Chiến lược quốc gia về ĐDSH đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

[31]. Quyết định số 24/2012/QĐ-TTg ngày 01/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ về Chính sách đầu tư và phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011-2020

[32]. Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ về Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng

[33]. Quyết định số 57/2008/QĐ-BNN ngày 02 tháng 05 năm 2008 của Bộ NN-PTNT về việc ban hành Danh mục giống thủy sản được phép kinh doanh

[34]. Thông tư số 90/2008/TT-BNN ngày 28 tháng 8 năm 2008 của Bộ NN-PTNT hướng dẫn xử lý tang vật là động vật rừng sau khi xử lý tịch thu

[35]. Nghị định số 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản

[36]. Bộ Luật hình sự năm 1999

[37]. Bộ Luật hình sự năm sửa đổi bổ sung năm 2009

[1]  Quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày 30/10/2014 của Thủ tướng Chính phủ về Quy hoạch hệ thống rừng đặc dụng cả nước đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

[2]Bộ TN&MT, Cục Bảo vệ môi trường (2006). Báo cáo tổng quan rừng ngập mặn Việt Nam

[3]Tổng hợp từ số liệu diễn biến diện tích rừng qua các năm của Cục Kiểm lâm

[4] Nghị định số 160/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 về tiêu chí xác định và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm, được ưu tiên bảo vệ

[5]Chiến lược quốc gia về ĐDSH đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 ngày 31 tháng 7 năm 2013

[6] Thông tư số 40/2014/TTLT-BTC-BTNMT ngày 29/10/2014 Hướng dẫn quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí chi thường xuyên  từ ngân sách nhà nước thực hiện các nhiệm vụ, dự án theo chiến lược  quốc gia về ĐDSH đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

[7] Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2013Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

[8] Nghị định số 157/2013/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản

[9] Báo cáo tại “Hội nghị đánh giá kết quả hoạt động khoa học và công nghệ về quỹ gen (giai đoạn 2001-2013 và định hướng đến 2020)” ngày 3/11/2013 của Bộ Khoa học công nghệ.

………………………………………………………………………………….

Ngun: Trích dn t k yếu Hi ngh môi trường toàn quc ln th IV, B tài nguyên và Môi trường, Hà Ni, 29/09/2015

…………………………………………………………………………………..

Mua bán piano Nhật